'Giá long môn', 'trạc thải': Sao cứ phải dùng từ đánh đố dân?
Một vụ xe ben quên hạ thùng, tông vào khung treo biển báo đã kéo theo tranh luận về thuật ngữ "giá long môn". Người bảo vệ thuật ngữ kỹ thuật, người đề nghị gọi đơn giản là "cổng biển báo". Từ cuộc tranh luận ấy, nhìn lại chuyện dùng chữ xưa nay mới thấy việc chọn một cái tên vừa đúng, vừa dễ hiểu chưa bao giờ đơn giản.
Trao đổi với phóng viên Tiền Phong về cách gọi "giá long môn", TS. ngôn ngữ Nguyễn Hoài Thu cho rằng từ này có cơ sở để tồn tại trong ngôn ngữ kỹ thuật. Tuy nhiên chuyên gia nhận định việc gọi dễ hiểu hơn trên báo chí cũng là điều hợp lý.
Theo bà Hoài Thu, điều đáng bàn ở đây là cách đưa thuật ngữ đến công chúng. Một từ đã có trong quy chuẩn vẫn cần được giải thích khi xuất hiện trước những người không làm chuyên môn.

Giá long môn là khung kết cấu bắc ngang phía trên phần đường xe chạy, dùng để lắp biển báo và các thiết bị giao thông.
Đúng nhưng khó hiểu
Trước hết, "giá long môn" không phải là cái tên mới. Thuật ngữ này đã xuất hiện trong quy chuẩn về biển chỉ dẫn trên đường cao tốc ban hành năm 2015. Tại mục 3.17 QCVN 41:2024/BGTVT, nó được định nghĩa theo đặc điểm kết cấu: bắc ngang qua đường, nằm trên phần đường xe chạy. Mục tiếp theo phân biệt với “cột cần vươn”. Như vậy, tên gọi đang nằm trong một hệ thống phân loại kỹ thuật.
Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Hoài Thu, nếu sử dụng từ này cho đại chúng, cách diễn đạt "khung treo biển báo bắc ngang đường" sẽ dễ hình dung hơn. “Nếu trên mặt báo, lần đầu có thể viết 'khung treo biển báo bắc ngang đường, trong kỹ thuật gọi là giá long môn’, những lần sau rút gọn theo ngữ cảnh. Không cần buộc người đọc học xong thuật ngữ mới hiểu được sự việc”, TS. Hoài Thu kiến nghị.
Về lịch sử tiếng Việt, có nhiều trường hợp tương tự ở việc lựa chọn giữa tên chuyên môn, từ vay mượn và cách nói thông thường. Trong cuốn Danh từ khoa học của GS. Hoàng Xuân Hãn, xuất bản năm 1942, ông đã cân nhắc những trường hợp cụ thể:
Phương trình thức được rút thành phương trình để tiện ghép đôi và tạo ra các thuật ngữ phái sinh.
Phản xạ được lựa chọn để dùng rộng trong nhiều ngành, phản chiếu gắn với ánh sáng.
Với hydrogène, ông chủ trương dùng dạng phiên âm trong khoa học, đồng thời chấp nhận "khinh khí" trong lời nói thông thường.
Ngoài ra, bậc thầy ngôn ngữ học này cũng nhấn mạnh: “Trừ ra những tiếng chỉ những nghĩa thực là chuyên môn thì không kể, còn những ý có dính dáng với những điều thường thức thì ắt phải làm sao cho danh từ có thể dùng lẫn vào trong câu nói thường mà không chối tai. Sự chối tai đây là thuộc về âm điệu chớ không phải về nghĩa”.
Như vậy, nếu chiếu theo tiêu chuẩn của GS. Hoàng Xuân Hãn, việc một từ "đã dùng trong chuyên ngành" chưa đủ để chứng minh nó thuận tiện với mọi độc giả. Ngược lại, việc một hoặc một vài người đọc "chưa nghe bao giờ" cũng chưa đủ để kết luận từ ấy vô lý. Ở đây, tính chính xác chuyên môn và khả năng tiếp nhận của công chúng cần được xem xét đồng thời.
Từ mới cần có thời gian thích nghi
Trước đó, trên báo chí xuất hiện từ "trạc thải" cũng nhiều lần gây thắc mắc với bạn đọc. Nhiều người nói họ không hiểu trạc thải là gì. Một số người lại cho rằng, tại sao không dùng từ đồng nghĩa "phế thải xây dựng" vì từ này phổ biến hơn, ai ai cũng biết?
Giải đáp những thắc mắc này, TS. Nguyễn Hoài Thu nghiêng về lựa chọn dùng "phế thải xây dựng" trong những bản tin hướng tới đông đảo bạn đọc. Nếu giữ trạc thải, người viết nên giải nghĩa ngay lần đầu. Khi có dữ liệu hiện trường, người viết còn có thể gọi cụ thể gạch vỡ, bê tông vụn, vữa hay đất đá, giúp độc giả hình dung chính xác những gì bị đổ bỏ.
"Phóng viên theo dõi xây dựng, môi trường hoặc giao thông có thể tiếp xúc thường xuyên với một cách gọi và dần cảm thấy nó hiển nhiên. Nhưng độc giả lần đầu gặp từ ấy vẫn cần được giải thích. Sự quen tai trong một nhóm người chưa bảo đảm khả năng thông hiểu trên phạm vi rộng”, chuyên gia nêu.

Trạc thải là cách gọi phế thải xây dựng như gạch vỡ, bê tông vụn, vữa và đất đá phát sinh khi xây, sửa hoặc phá dỡ công trình.

Một từ có dễ phổ biến hay không còn phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng, độ rõ nghĩa và sự thuận tiện trong giao tiếp.
Theo TS. Hoài Thu, một từ ngữ mới hoặc một thuật ngữ chuyên ngành muốn đi vào đời sống đều cần thời gian để người sử dụng làm quen. Ban đầu, người nghe có thể thấy lạ, phải hỏi nghĩa hoặc cần một ví dụ cụ thể. Qua những lần gặp lại trong ngữ cảnh rõ ràng, họ dần hiểu và biết cách dùng.
Tuy nhiên, thời gian không tự bảo đảm rằng mọi tên gọi đều sẽ được chấp nhận. Một từ có dễ phổ biến hay không còn phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng, độ rõ nghĩa và sự thuận tiện trong giao tiếp.
Báo chí có thể giúp quá trình làm quen diễn ra tự nhiên bằng cách kèm lời giải nghĩa ngắn ở lần xuất hiện đầu tiên, gắn tên gọi với hình ảnh và công dụng cụ thể. Đồng thời, người làm chuyên môn cũng nên lắng nghe những thắc mắc của công chúng. Đó là cơ sở để cân nhắc cách diễn đạt, giúp kiến thức chuyên ngành đến gần hơn với người đọc.
