Gia nhập nhóm thu nhập trung bình cao - Cột mốc để chuyển mình - Bài 2: Tạo đột phá tài chính để vượt bẫy thu nhập trung bình
Để đạt mục tiêu GDP bình quân đầu người 8.500USD vào năm 2030, Việt Nam phải duy trì tốc độ tăng trưởng GDP ở mức cao, liên tục. Nhằm làm rõ kịch bản huy động, phân bổ nguồn lực tài chính vĩ mô, vừa bảo đảm an toàn nợ công, vừa tạo động lực cho nền kinh tế bứt phá, vượt bẫy thu nhập trung bình, phóng viên Báo SGGP đã trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương về vấn đề này.
Ưu đãi thuế, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào R&D
* PHÓNG VIÊN: Thưa Thứ trưởng, bối cảnh mới đặt ra yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển, từ tư duy “gia công tại Việt Nam” sang “sáng tạo và làm chủ tại Việt Nam”. Ngành tài chính có những chính sách nào để thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu và phát triển (R&D), công nghệ và nâng cao năng suất nội địa?

Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương
- Thứ trưởng TRẦN QUỐC PHƯƠNG: Tôi cho rằng đây chính là một trong những yêu cầu cốt lõi của quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Muốn tăng trưởng nhanh và bền vững, Việt Nam không thể chỉ dựa vào mở rộng đầu tư hay gia tăng quy mô sản xuất truyền thống, mà phải nâng cao năng suất, năng lực công nghệ và khả năng sáng tạo của chính doanh nghiệp trong nước.
Nói cách khác, chúng ta phải từng bước chuyển từ lợi thế về chi phí và gia công sang lợi thế cạnh tranh bằng công nghệ, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng cao.
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị (về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia), Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 2060/QĐ-BTC nhằm triển khai đồng bộ các chính sách tài chính.
Trong đó, chính sách thuế được thiết kế lại như một hệ sinh thái đòn bẩy. Hệ thống thuế hiện hành đã có những điều chỉnh mang tính đột phá, tạo ưu đãi vượt trội cho hoạt động R&D, công nghệ cao và thu hút nhân lực chất lượng cao.
Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), chúng ta áp dụng mức ưu đãi cao nhất trong khung pháp lý hiện hành đối với các doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp công nghệ cao và các trung tâm R&D chiến lược.
Mức ưu đãi có thể lên tới thuế suất 10% trong thời hạn 25 năm, miễn thuế tối đa 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.
Đặc biệt, nhằm khuyến khích doanh nghiệp chủ động đầu tư trực tiếp vào R&D, Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15 và Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân đã bổ sung cơ chế ưu đãi: doanh nghiệp được tính vào chi phí trừ tối đa không quá 200% chi phí thực tế cho hoạt động R&D.
Điều này có nghĩa khi doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng cho R&D, họ được phép khấu trừ tối đa 2 đồng khi xác định thu nhập chịu thuế. Cơ chế này trực tiếp làm giảm nghĩa vụ thuế TNDN, giải tỏa áp lực tài chính ngắn hạn và thúc đẩy tinh thần đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp…
Về thuế thu nhập cá nhân (TNCN), để giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực trình độ cao, Luật Thuế TNCN số 109/2025/QH15 (hiệu lực từ ngày 1-7) bổ sung quy định mang tính đột phá: miễn thuế TNCN trong 5 năm với thu nhập từ tiền lương, tiền công của các chuyên gia, nhân lực công nghệ cao trực tiếp thực hiện hoạt động R&D công nghệ cao hoặc công nghệ chiến lược thuộc danh mục ưu tiên đầu tư phát triển. Đây là cú hích mạnh mẽ giúp doanh nghiệp nội địa thu hút nguồn chất xám trong và ngoài nước.
Sắp tới, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục tham mưu hoàn thiện hệ thống thuế theo định hướng tại Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số).
Chúng tôi cũng đang nghiên cứu các cơ chế hỗ trợ ngoài thuế theo Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài). Điểm đổi mới quan trọng nhất là chính sách ưu đãi sẽ từng bước chuyển từ hỗ trợ theo cách truyền thống sang hỗ trợ gắn với hiệu quả thực tế của dự án.
Khơi thông nguồn vốn dài hạn, giữ dư địa tài khóa cho phát triển

Hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ sinh học tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Ảnh: QUANG PHÚC
* Để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng hay vốn FDI trong lĩnh vực gia công, Bộ Tài chính có lộ trình cụ thể nào để phát triển thị trường vốn?
- Đây là một yêu cầu rất quan trọng đối với quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam. Một nền kinh tế muốn phát triển nhanh và bền vững không thể phụ thuộc quá lớn vào một kênh cung ứng vốn. Chúng ta cần một hệ thống tài chính cân bằng hơn, trong đó thị trường vốn trở thành kênh huy động và phân bổ nguồn lực trung, dài hạn cho nền kinh tế.
Để đạt mục tiêu GDP bình quân đầu người 8.500USD vào năm 2030, chúng ta phải duy trì tốc độ tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030. Để làm được điều đó, kịch bản tài chính vĩ mô giai đoạn này hướng tới huy động tối đa, phân bổ hiệu quả mọi nguồn lực và giữ vững kỷ luật an toàn nợ công. Kịch bản tập trung vào các nội dung lớn sau:
Thứ nhất, về huy động ngân sách: phấn đấu tổng huy động vào ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030 đạt khoảng 18% GDP, với thu nội địa đóng vai trò nòng cốt, chiếm 87%-88%. Trọng tâm là mở rộng cơ sở thu bền vững, quản lý chặt kinh tế số, thương mại điện tử xuyên biên giới, chống thất thu, chuyển giá và khai thác hiệu quả tài sản công, đất đai, tài nguyên.
Về phân bổ chi đầu tư: tiếp tục cơ cấu lại chi ngân sách theo hướng tăng mạnh chi đầu tư phát triển lên khoảng 40% tổng chi ngân sách nhà nước, đồng thời giảm chi thường xuyên còn 51%-52%. Nguồn vốn đầu tư công sẽ tập trung cho hạ tầng giao thông chiến lược, năng lượng, logistics, hạ tầng số, khoa học - công nghệ và nhân lực chất lượng cao.
Thứ hai, về quản lý nợ công, theo Nghị quyết số 26/2026/QH16 của Quốc hội (về kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2026-2030), tổng mức vay của Chính phủ gần 6,5 triệu tỷ đồng, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp khoảng 3,2 triệu tỷ đồng.
Theo đó, chúng ta tiếp tục đa dạng hóa kênh vay, lấy nguồn vay trong nước làm chủ đạo, điều hành linh hoạt trái phiếu Chính phủ và huy động có chọn lọc nguồn vốn ODA, ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt, có sức lan tỏa cao.
Về thị trường vốn, FTSE Russell đã nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên thị trường mới nổi thứ cấp. Tuy vậy, quy mô hiện tại vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu của các ngành công nghiệp mới. Để giải quyết vấn đề này, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045”.
Để triển khai đề án, Bộ Tài chính sẽ tập trung vào các giải pháp chính gồm: hoàn thiện thể chế minh bạch; thúc đẩy chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO) gắn với niêm yết, khuyến khích các tập đoàn tư nhân và doanh nghiệp FDI tham gia thị trường chứng khoán; phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp chuyên nghiệp phục vụ dự án đầu tư, dự án PPP, hạ tầng và phát hành trái phiếu xanh…
* Nhìn về mốc năm 2045, lợi thế chi phí thấp và dư địa dân số sẽ không còn hỗ trợ nhiều cho tăng trưởng. Bộ Tài chính chuẩn bị không gian tài khóa và các công cụ quản trị rủi ro vĩ mô như thế nào để vừa bảo đảm phát triển bền vững, vừa nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các biến động toàn cầu?
- Khi lợi thế về lao động giá rẻ và cơ cấu dân số vàng dần thu hẹp, động lực tăng trưởng của Việt Nam chắc chắn phải chuyển mạnh sang năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế.
Vì vậy, chuẩn bị cho năm 2045 không chỉ là tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng, mà còn phải xây dựng được một “tấm đệm” tài chính đủ mạnh để nền kinh tế có khả năng chống chịu trước những cú sốc khó lường.
Theo hướng đó, không gian tài khóa trong dài hạn được chuẩn bị theo nguyên tắc: vừa bảo đảm khả năng hỗ trợ phát triển, vừa duy trì được dư địa để ứng phó khi nền kinh tế gặp biến động.
Bộ Tài chính đang xây dựng khuôn khổ tài khóa trung hạn gắn bội chi, vay nợ với khả năng hấp thụ của nền kinh tế; đánh giá sức chịu đựng của ngân sách trước các kịch bản bất lợi (suy thoái kinh tế thế giới, biến động tỷ giá, lãi suất, thiên tai, đứt gãy chuỗi cung ứng)…
Trong quá trình chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, nguồn lực công sẽ được ưu tiên cho hạ tầng chống chịu và năng lượng sạch. Chúng tôi đang đẩy mạnh số hóa thông qua việc xây dựng hệ thống dữ liệu tài chính - ngân sách thống nhất, kết nối thuế, hải quan, kho bạc, đăng ký kinh doanh và đầu tư công, giúp phát hiện sớm các rủi ro hụt thu, chậm giải ngân hay nghĩa vụ tài khóa tiềm ẩn…
Đây chính là cơ sở cốt lõi để chuyển đổi từ quản lý bị động sang dự báo, cảnh báo và quản trị chủ động, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển đến năm 2045.

