Giá nông sản hôm nay (23/10): Giá cà phê tiếp tục giảm, thịt lợn dao động trong khoảng 46.000 - 52.000 đồng/kg

Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Ngày 23/10, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO ỔN ĐỊNH

Giá lúa gạo hôm nay (23/10) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ổn định, giao dịch mua bán ít. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 - 8.750 đồng/kg. Trong khi đó, giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 5.900 - 6.100 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 dao động mốc 5.900 - 6.000 đồng/kg.

Giá gạo lại duy trì ổn định

Giá gạo lại duy trì ổn định

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hôm nay dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.300 - 8.600 đồng/kg. Hiện tấm thơm 3 - 4 dao động ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.300 - 7.650 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ giá gạo bình giá so với cuối tuần. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.500 - 16.500 đồng/kg.

Phân khúc nếp đi ngang so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.

Với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 5.900 - 6.100 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 dao động mốc 5.900 - 6.000 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa tươi OM 34 dao động mốc 5.700 - 5.800 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang với hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 440 - 445 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 526 - 530 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 368 - 372 USD/tấn.

Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm của nước này tiếp tục duy trì mức cao nhất trong số các nước xuất khẩu hàng đầu, khoảng 477 - 481 USD/tấn.

Giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan cũng không biến động, dao động trong khoảng 419 - 423 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm của được chào bán ở mức 375 - 379 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm đạt 377 - 381 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ TIẾP ĐÀ GIẢM

Giá cà phê trong nước hôm nay tiếp tục ghi nhận xu hướng giảm tại các địa phương sản xuất trọng điểm. Theo khảo sát, giá cà phê Robusta nhân xô tại Tây Nguyên giảm từ 400 - 500 đồng/kg so với ngày hôm trước, hiện dao động trong khoảng 90.800 - 91.500 đồng/kg.

Cụ thể, tại khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng), giá cà phê giảm 500 đồng/kg, từ 92.000 đồng/kg xuống còn 91.500 đồng/kg. Đây vẫn là khu vực có mức thu mua cao nhất trong các địa bàn được khảo sát.

Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng giảm 400 đồng/kg, xuống mức 91.400 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng ghi nhận mức thu mua thấp nhất, đạt 90.800 đồng/kg, giảm 400 đồng/kg so với phiên trước. Như vậy, giá cà phê trong nước tiếp tục lùi sâu sau khi đánh mất mốc 94.000 đồng/kg trong phiên ngày 22/10.

Trên thị trường quốc tế, giá cà phê Robusta và Arabica diễn biến trái chiều. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 11/2026 giảm 58 USD/tấn, tương đương 1,7%, xuống còn 3.352 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 1/2027 giảm 60 USD/tấn, tương đương 1,75%, còn 3.364 USD/tấn.

Đây là phiên giảm thứ hai liên tiếp của robusta, sau khi hợp đồng tháng 11/2026 mất 74 USD/tấn trong phiên trước.

Trong khi đó, trên sàn New York, giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 12/2026 tăng 4,85 US cent/pound, tương đương 1,56%, lên mức 316,15 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 3/2027 tăng 2,25 US cent/pound, tương đương 0,75%, đạt 301,25 US cent/pound.

GIÁ HỒ TIÊU ĐI NGANG

Khảo sát thị trường sáng nay (23/10) cho thấy, giá tiêu tại các địa phương sản xuất trọng điểm không thay đổi so với phiên trước, tiếp tục duy trì trong khoảng 137.000 - 139.500 đồng/kg.

Cụ thể, tại khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng), giá tiêu giữ mức 139.500 đồng/kg, cao nhất trong các địa bàn được khảo sát. Tại Đắk Lắk, giá thu mua ổn định ở mức 138.500 đồng/kg. Khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (TP HCM) tiếp tục giao dịch ở mức 137.500 đồng/kg.

Giá tiêu tại các địa phương sản xuất trọng điểm không thay đổi so với phiên trước

Giá tiêu tại các địa phương sản xuất trọng điểm không thay đổi so với phiên trước

Trong khi đó, Gia Lai và khu vực Bình Phước (Đồng Nai) cùng duy trì mức 137.000 đồng/kg, thấp nhất trong nhóm địa phương được khảo sát.

Như vậy, giá tiêu trong nước tạm thời chững lại sau phiên đồng loạt giảm 500 đồng/kg ngày 22/10, khiến mức thu mua cao nhất mất mốc 140.000 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu ghi nhận diễn biến tích cực tại Indonesia. Theo Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia tăng 81 USD/tấn, tương đương 1,2%, lên mức 6.850 USD/tấn.

Giá tiêu trắng Muntok Indonesia cũng tăng 86 USD/tấn, tương đương 0,93%, đạt 9.354 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu đen Malaysia giữ nguyên mức 9.100 USD/tấn, còn tiêu đen ASTA 570 của Brazil duy trì ở mức 5.800 USD/tấn.

Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l tiếp tục đạt 5.950 USD/tấn, còn loại 550 g/l ở mức 5.995 USD/tấn.

Ở phân khúc tiêu trắng, Malaysia duy trì mức 12.000 USD/tấn và Việt Nam giữ mức 8.450 USD/tấn.

GIÁ CAO SU ỔN ĐỊNH

Tại thị trường trong nước, giá thu mua cao su của các doanh nghiệp được khảo sát tiếp tục giữ ổn định, chưa ghi nhận điều chỉnh mới.

Cụ thể, tại Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg và giá thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) bình ổn 18.000 đồng/kg.

Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).

Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

 Giá cao su tại các doanh nghiệp lớn tại thị trường trong nước bình ổn

Giá cao su tại các doanh nghiệp lớn tại thị trường trong nước bình ổn

Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM (Tokyo) - Nhật Bản hợp đồng tháng 11 ở mức 439,20 Yên/kg giảm 0,25%. Hợp đồng giao tháng 12 ở mức 440 Yên/kg, giảm 0,86%.

Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 (FOB Laem Chabang) giảm 0,03 Baht (0,03%) xuống mức 96,41 Baht/kg.

Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên hợp đồng giao tháng 11 ở mức 19,015 Nhân dân tệ/tấn, tăng 0,13%. Hợp đồng giao tháng 1/2027 ở mức 19.640 Nhân dân tệ/tấn, tăng 0,03%.

Hợp đồng cao su butadiene tháng 11 giao dịch nhiều nhất trên Sàn SHFE gần như đi ngang ở mức 15.690 Nhân dân tệ/tấn.

Trên Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 11 ở mức 255,40 Cent/kg, giảm 1,05%. Hợp đồng kỳ hạn tháng 12 ở mức 252,60 Cent/kg, giảm 0,75%.

Đà giảm áp đảo với áp lực điều chỉnh thể hiện rõ nhất trên SGX. Mức tăng khá hẹp tại sàn SHFE cho thấy giá có tín hiệu ổn định nhưng chưa đủ mạnh để xác lập xu hướng phục hồi đồng thuận. Tại thị trường Thái Lan và sàn TOCOM cũng đồng loạt giảm, cho thấy sự phân hóa ngay giữa các tháng giao hàng, thị trường vì vậy chưa hình thành hướng đi thống nhất.

GIÁ THỊT LỢN TIẾP TỤC GIẢM

Tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục giảm trên diện rộng. Theo khảo sát, 14 trong tổng số 15 tỉnh, thành phố đồng loạt giảm 1.000 đồng/kg, chỉ riêng Ninh Bình giữ nguyên mức thu mua.

Sau điều chỉnh, giá lợn hơi toàn khu vực dao động từ 48.000 - 49.000 đồng/kg, thấp hơn 1.000 đồng/kg so với khung giá của phiên trước.

 Giá lợn hơi hôm nay (23/10) tiếp tục giảm mạnh ở cả 3 miền trên cả nước

Giá lợn hơi hôm nay (23/10) tiếp tục giảm mạnh ở cả 3 miền trên cả nước

Mức 49.000 đồng/kg hiện được ghi nhận tại Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Lào Cai, Điện Biên, Phú Thọ, Sơn La và Hưng Yên. Trong khi đó, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn và Lai Châu cùng giao dịch ở mức 48.000 đồng/kg.

Tại miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay cũng giảm tại 7 địa phương, với mức điều chỉnh từ 1.000 - 2.000 đồng/kg.

Cụ thể, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Gia Lai, Khánh Hòa và Lâm Đồng cùng giảm 1.000 đồng/kg. Riêng Quảng Ngãi ghi nhận mức giảm mạnh nhất khu vực, lên tới 2.000 đồng/kg.

Sau điều chỉnh, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi và Gia Lai cùng giao dịch ở mức 46.000 đồng/kg. Đây cũng là mức giá lợn hơi thấp nhất được ghi nhận trên cả nước trong sáng nay.

Trong khi đó, Thanh Hóa, Đà Nẵng và Khánh Hòa giảm xuống 47.000 đồng/kg, bằng với mức thu mua tại Nghệ An, Quảng Trị và Huế. Tại Đắk Lắk, giá lợn hơi duy trì ổn định ở mức 49.000 đồng/kg. Riêng Lâm Đồng giảm 1.000 đồng/kg, xuống còn 51.000 đồng/kg nhưng vẫn là địa phương có mức giá cao nhất khu vực.

Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay cũng tiếp tục ghi nhận những điểm giảm giá, dù số địa phương điều chỉnh ít hơn so với hai khu vực còn lại. Cụ thể, TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh và An Giang cùng giảm 1.000 đồng/kg so với ngày trước đó.

Sau điều chỉnh, TP. Hồ Chí Minh và Tây Ninh cùng giao dịch ở mức 51.000 đồng/kg, trong khi An Giang giảm xuống 47.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại duy trì giá thu mua của phiên trước. Đồng Nai tiếp tục giữ mức 52.000 đồng/kg, trở thành địa phương duy nhất tại miền Nam còn giao dịch ở ngưỡng này.

Trong khi đó, Đồng Tháp, Cà Mau và Vĩnh Long ổn định ở mức 48.000 đồng/kg; Cần Thơ duy trì mức 47.000 đồng/kg. Như vậy, giá lợn hơi miền Nam hiện dao động từ 47.000 - 52.000 đồng/kg, với mức thấp nhất xuất hiện tại An Giang và Cần Thơ.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Minh Đăng

Nguồn Thương Gia: https://thuonggiaonline.vn/gia-nong-san-hom-nay-2310-gia-ca-phe-tiep-tuc-giam-thit-lon-dao-dong-trong-khoang-46000-52000-dongkg-post573817.html