Giá nông sản ngày 22/4: Cà phê bật tăng, hồ tiêu ổn định, gạo nguyên liệu nhích nhẹ
Thị trường nông sản ngày 22/4 ghi nhận diễn biến phân hóa rõ rệt giữa các mặt hàng chủ lực. Trong khi cà phê bật tăng mạnh nhờ lực đỡ từ thị trường quốc tế, hồ tiêu tiếp tục đi ngang và giữ ổn định, còn gạo nguyên liệu xuất khẩu chỉ nhích nhẹ giữa bối cảnh giao dịch nội địa vẫn khá trầm lắng.
Thị trường cà phê

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Trong phiên giao dịch ngày 22/4, thị trường cà phê diễn biến tích cực khi giá trong nước tăng mạnh theo xu hướng phục hồi của thế giới. Tại khu vực Tây Nguyên, giá cà phê đồng loạt tăng từ 2.000 đến 2.100 đồng/kg so với phiên trước, đưa mặt bằng chung lên quanh mức 86.800 đến 87.600 đồng/kg.
Trong đó, Đắk Nông là địa phương có mức giá cao nhất khi đạt 87.600 đồng/kg sau khi tăng mạnh 2.100 đồng/kg. Cùng đứng ở mức phổ biến 87.300 đồng/kg là Đắk Lắk và Gia Lai, trong khi Lâm Đồng thấp hơn nhưng cũng tăng lên 86.800 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê đồng loạt đi lên, đặc biệt ở dòng robusta. Hợp đồng robusta kỳ hạn tháng 5/2026 trên sàn London tăng lên 3.482 USD/tấn, còn kỳ hạn tháng 7 đạt 3.376 USD/tấn. Giá arabica trên sàn New York cũng phục hồi nhưng mức tăng khiêm tốn hơn, dao động quanh 292,2 US cent/pound cho kỳ hạn tháng 5 và 287,75 US cent/pound cho kỳ hạn tháng 7.
Động lực tăng giá đến từ nhiều yếu tố, nổi bật là căng thẳng địa chính trị làm chi phí vận chuyển leo thang, tồn kho robusta giảm sâu và lo ngại thời tiết bất lợi tại các quốc gia sản xuất lớn. Bên cạnh đó, tâm lý găm hàng của nông dân cũng khiến nguồn cung ngắn hạn bị thu hẹp.
Trong ngắn hạn, giá cà phê được đánh giá vẫn duy trì xu hướng tích cực. Tuy nhiên, rủi ro dư cung toàn cầu vẫn hiện hữu, khiến thị trường có thể biến động mạnh trước các yếu tố vĩ mô.
Thị trường hồ tiêu
Trái ngược với cà phê, thị trường hồ tiêu hôm nay không ghi nhận biến động đáng kể. Giá tiêu trong nước tiếp tục ổn định trong khoảng 139.500 đến 141.000 đồng/kg.
Hiện Đắk Lắk và Đắk Nông vẫn là hai địa phương giữ mức cao nhất 141.000 đồng/kg. Trong khi đó, Bà Rịa – Vũng Tàu và Đồng Nai duy trì quanh ngưỡng 140.000 đồng/kg, còn Gia Lai tiếp tục là khu vực có giá thấp nhất, ở mức 139.500 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu đen Indonesia đạt 7.048 USD/tấn. Tiêu đen Brazil ASTA 570 đứng ở mức 6.000 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia đạt 9.300 USD/tấn. Riêng giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam dao động từ 6.100 đến 6.200 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu Muntok của Indonesia đạt 9.286 USD/tấn, tiêu trắng Việt Nam ở mức 9.000 USD/tấn và tiêu trắng Malaysia đạt 12.200 USD/tấn.
Điểm đáng chú ý là hoạt động xuất khẩu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Trong nửa đầu tháng 4/2026, lượng xuất khẩu đạt hơn 14.500 tấn với kim ngạch hơn 91 triệu USD, tăng đáng kể so với tháng trước. Ngược lại, nhập khẩu giảm mạnh, cho thấy sự điều chỉnh trong cân đối cung – cầu.
Theo đánh giá của thị trường, giá tiêu nhiều khả năng sẽ tiếp tục đi ngang trong ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu nhu cầu quốc tế tiếp tục cải thiện, mặt bằng giá cao hiện nay có thể được duy trì và tạo nền cho các nhịp tăng mới.
Thị trường lúa gạo
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu hôm nay ghi nhận tăng nhẹ ở một số chủng loại. Gạo IR 504 tăng lên mức 8.100 đến 8.200 đồng/kg; gạo CL 555 đạt 8.150 đến 8.250 đồng/kg; gạo OM 18 dao động trong khoảng 8.700 đến 8.900 đồng/kg; gạo OM 5451 ở mức 8.650 đến 8.750 đồng/kg.
Ở nhóm giá cao hơn, gạo Đài Thơm 8 được giao dịch từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg. Trong khi đó, gạo OM 380 và Sóc thơm cùng dao động trong khoảng 7.500 đến 7.600 đồng/kg.
Giá lúa tươi tiếp tục duy trì ổn định, trong đó lúa OM 18 dao động từ 6.000 đến 6.200 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 ở mức 6.000 đến 6.100 đồng/kg; lúa OM 5451 từ 5.800 đến 5.900 đồng/kg; lúa IR 50404 trong khoảng 5.500 đến 5.600 đồng/kg; còn lúa OM 34 dao động từ 5.100 đến 5.200 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá gạo tiếp tục ổn định. Gạo Nàng Nhen giữ mức cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động từ 20.000 đến 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan khoảng 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg.
Ngoài ra, gạo thơm Jasmine dao động từ 14.000 đến 15.000 đồng/kg; gạo thường từ 13.000 đến 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường từ 16.000 đến 17.000 đồng/kg, trong khi gạo Sóc Thái ở mức 20.000 đồng/kg và gạo Nhật khoảng 22.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, gạo Việt Nam giữ mức giá ổn định với gạo 5% tấm dao động từ 490 đến 500 USD/tấn, gạo Jasmine từ 465 đến 469 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 334 đến 338 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, giá gạo tăng nhẹ. Cụ thể, tại Thái Lan, gạo 5% tấm dao động 386 - 390 USD/tấn, tăng 4 USD/tấn; gạo 100% tấm đạt 364 - 368 USD/tấn, tăng 5 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm ở mức 342 - 346 USD/tấn, tăng 2 USD/tấn; gạo 100% tấm chào bán 283 - 287 USD/tấn.











