Giá sắn tăng cao, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới cho chế biến và nguồn nhiên liệu sinh học

Trung Quốc tiếp tục giữ vai trò là thị trường tiêu thụ chủ lực của ngành sắn Việt Nam khi chiếm hơn 92% tổng kim ngạch xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn. Cùng với đó, nhu cầu tinh bột sắn phục vụ chế biến thực phẩm và sản xuất ethanol gia tăng đã góp phần duy trì mặt bằng giá ở mức thuận lợi, tạo động lực cho hoạt động sản xuất, chế biến và xuất khẩu.

Giá sắn tăng cao, nông dân phấn khởi. Ảnh Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tháng 7/2026, Việt Nam ước xuất khẩu 129,3 nghìn tấn sắn và các sản phẩm từ sắn, thu về 56,6 triệu USD. Lũy kế 7 tháng đầu năm, xuất khẩu mặt hàng này đạt 2,1 triệu tấn, tương ứng 755,4 triệu USD, giảm 15,4% về khối lượng nhưng chỉ giảm 0,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Nhờ giá xuất khẩu bình quân đạt khoảng 359,4 USD/tấn, tăng 18% so với cùng kỳ năm trước, mức sụt giảm về kim ngạch được thu hẹp đáng kể.

GIÁ SẮN TĂNG CAO

Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm tới 92,1% tổng kim ngạch xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam. Malaysia và Đài Loan là hai thị trường lớn tiếp theo, lần lượt chiếm 1,5% và 1,4% thị phần. So với cùng kỳ năm 2025, giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 0,6%, sang Malaysia tăng mạnh 76,3%, trong khi xuất khẩu sang Đài Loan giảm 9,6%.

Hiện giá tinh bột sắn xuất khẩu theo điều kiện FOB tại cảng TP.HCM dao động 600-620 USD/tấn, trong khi giá giao dịch qua biên giới với Trung Quốc ở mức 3.720-3.850 NDT/tấn. Mức giá này cao hơn đáng kể so với giá xuất khẩu bình quân năm 2025 chỉ đạt 317,6 USD/tấn.

Theo các chuyên gia, giá sắn duy trì ở mức cao cùng nhu cầu xuất khẩu ổn định đang tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao giá trị toàn chuỗi ngành hàng, từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến và xuất khẩu.

Tây Ninh hiện là vùng trồng sắn lớn thứ hai cả nước với diện tích khoảng 59.000-62.000 ha, đồng thời là trung tâm chế biến tinh bột sắn lớn nhất Việt Nam khi thu hút hơn 65 doanh nghiệp đầu tư nhà máy. Bước vào vụ chế biến 2026-2027, nhiều doanh nghiệp đã khởi động nhà máy sớm nhằm đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu và chủ động nguồn nguyên liệu.

Trong bối cảnh nguồn cung sắn tươi còn hạn chế, cạnh tranh thu mua giữa các nhà máy ngày càng gay gắt, đẩy giá sắn có hàm lượng tinh bột 30% lên 4.250-4.350 đồng/kg - mức cao nhất trong nhiều vụ gần đây. Cùng với đó, nhu cầu sắn lát phục vụ sản xuất ethanol cho xăng sinh học E10 tiếp tục gia tăng, tạo thêm động lực cho thị trường.

(Theo Hiệp Hội Sản xuất tinh bột khoai mì Tây Ninh)

Không khí sôi động nhanh chóng lan tỏa tới các vùng nguyên liệu. Sau nhiều vụ liên tiếp rơi vào tình trạng "được mùa mất giá", nông dân Tây Ninh năm nay bước vào vụ thu hoạch với tâm lý phấn khởi khi giá thu mua ổn định ở mức cao.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh, vụ đông xuân 2025-2026, địa phương đã xuống giống hơn 42.000 ha, đạt trên 70% kế hoạch năm. Giá thu mua hiện dao động 4.000-5.000 đồng/kg tùy chất lượng và hàm lượng tinh bột. Với năng suất bình quân 40-50 tấn/ha, nhiều hộ trồng sắn có thể đạt lợi nhuận khoảng 80 triệu đồng/ha sau khi trừ chi phí.

Để phát triển bền vững ngành hàng, UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 914/QĐ-UBND về Kế hoạch phát triển ngành khoai mì đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, tỉnh đặt mục tiêu đạt sản lượng 2-2,2 triệu tấn vào năm 2030, nâng tỷ lệ cơ giới hóa và ứng dụng khoa học công nghệ lên trên 80%, khoảng 92% sản lượng được đưa vào chế biến sâu, hướng tới sản xuất tuần hoàn và giảm phát thải.

CHUYỂN ĐỔI XANH MỞ LỐI CHO NGÀNH SẮN BỨT PHÁ

Tây Ninh hiện đã hình thành chuỗi sản xuất - chế biến - xuất khẩu sắn quy mô lớn. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu tinh bột sắn của tỉnh đạt gần 1 tỷ USD, chiếm khoảng 60-65% sản lượng cả nước.

Tuy nhiên, trước các yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt về phát thải carbon, ESG và truy xuất nguồn gốc, ngành sắn đang phải đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh. Nhiều doanh nghiệp chế biến tinh bột sắn tại Tây Ninh đã đầu tư mạnh vào hệ thống xử lý nước thải, tái sử dụng nước và tiết kiệm năng lượng nhằm đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu.

Quá trình này cũng đặt ra không ít khó khăn. Từ khi Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp (QCVN 40:2025/BNNMT) có hiệu lực, ngành chế biến tinh bột sắn không còn quy chuẩn nước thải riêng. Trong khi nước thải của ngành có đặc thù khác với nhiều lĩnh vực công nghiệp và các nhà máy chỉ hoạt động khoảng 7-8 tháng mỗi năm, việc áp dụng chung một quy chuẩn có thể làm gia tăng đáng kể chi phí đầu tư và vận hành. Vì vậy, các doanh nghiệp kiến nghị xây dựng lộ trình và tiêu chuẩn phù hợp hơn với đặc thù sản xuất.

Theo ông Nguyễn Đình Xuân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh, trong bối cảnh Việt Nam cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, chuyển đổi xanh là yêu cầu tất yếu để ngành chế biến tinh bột sắn giữ vững thị trường xuất khẩu. Bên cạnh việc tăng cường kiểm tra, giám sát môi trường, địa phương sẽ tiếp tục khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, tái sử dụng nước sau xử lý, tận dụng phụ phẩm và giảm tiêu hao năng lượng.

Theo ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), không chỉ hưởng lợi từ xuất khẩu, ngành sắn còn đứng trước cơ hội lớn từ lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học của Việt Nam. Hiện Việt Nam có 6 nhà máy sản xuất ethanol, sử dụng chủ yếu sắn lát khô làm nguyên liệu.

Cả nước hiện có khoảng 517.000 ha sắn với sản lượng khoảng 10,5 triệu tấn củ tươi mỗi năm. Khoảng 85% sản lượng được sử dụng cho chế biến tinh bột, ethanol, mì chính và nhiều sản phẩm công nghiệp khác".

Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Tuy nhiên, ông Mạnh cho rằng một củ sắn hiện có rất nhiều đầu ra nên không thể quy đổi toàn bộ sản lượng thành khả năng sản xuất ethanol. Ethanol chỉ là một trong nhiều ngành cùng cạnh tranh nguồn nguyên liệu.

Theo ông Lê Hữu Hùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam, phần lớn nguyên liệu vẫn được ưu tiên cho ngành chế biến tinh bột do nhu cầu xuất khẩu, đặc biệt từ thị trường Trung Quốc và nhiều nước châu Á, luôn duy trì ở mức cao.

Ông Hùng cho rằng để đáp ứng nhu cầu nhiên liệu sinh học trong tương lai, Việt Nam cần xây dựng chiến lược phát triển vùng nguyên liệu sắn dài hạn, đồng thời hình thành chuỗi cung ứng đồng bộ từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Khi đó, cây sắn sẽ không chỉ là nguyên liệu phục vụ chế biến thực phẩm hay xuất khẩu mà còn trở thành mắt xích quan trọng trong chiến lược phát triển năng lượng xanh và kinh tế tuần hoàn của Việt Nam.

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/gia-san-tang-cao-mo-ra-chu-ky-tang-truong-moi-cho-che-bien-va-nguon-nhien-lieu-sinh-hoc.htm