Gia tăng sức chống chịu của chuỗi cung ứng trước biến động tại Trung Đông

Xung đột leo thang tại Trung Đông đang gia tăng sức ép lên chuỗi cung ứng toàn cầu, đẩy chi phí vận tải, năng lượng và logistics tăng cao. Trước thách thức đó, doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao khả năng chống chịu rủi ro, đồng thời coi đây là cơ hội tái cấu trúc thị trường và chuỗi cung ứng.

Xung quanh vấn đề này, phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội đã trao đổi với chuyên gia kinh tế, Tiến sĩ Lê Quốc Phương.

- Ông đánh giá thế nào về mức độ tác động của xung đột tại Trung Đông tới chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh thương mại thế giới vừa phục hồi?

Tiến sĩ Lê Quốc Phương.

Tiến sĩ Lê Quốc Phương.

- Tôi cho rằng tác động là nghiêm trọng và có thể kéo dài. Trung Đông là một trong những trung tâm sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ, khí tự nhiên lớn nhất thế giới, do đó bất ổn tại khu vực này lập tức ảnh hưởng tới thị trường năng lượng và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Khi chiến sự leo thang, hoạt động khai thác, vận chuyển dầu khí bị gián đoạn; giá dầu và khí đốt tăng mạnh. Trong khi đó, năng lượng là đầu vào thiết yếu của hầu hết ngành sản xuất, nên giá năng lượng tăng sẽ kéo theo chi phí nguyên vật liệu, chi phí sản xuất và cuối cùng là giá thành sản phẩm tăng theo.

Từ lĩnh vực logistics, khu vực Trung Đông giữ vị trí đặc biệt quan trọng đối với vận tải quốc tế. Riêng eo biển Hormuz hiện chiếm khoảng 20% lưu lượng dầu khí toàn cầu. Nếu tuyến này bị phong tỏa hoặc hạn chế lưu thông, vận chuyển năng lượng và nhiều loại hàng hóa khác sẽ chịu tác động trực tiếp. Tàu hàng buộc phải điều chỉnh hải trình, làm tăng thời gian giao hàng, chi phí nhiên liệu và phí bảo hiểm.

Không chỉ đường biển, vận tải hàng không cũng bị ảnh hưởng. Trung Đông vốn là trung tâm trung chuyển lớn của hàng không quốc tế. Khi các hãng bay phải tránh không phận khu vực xung đột, thời gian bay kéo dài, chi phí khai thác tăng, kéo theo giá cước hàng không leo thang. Hệ quả là chuỗi cung ứng bị chậm nhịp, nhiều lô hàng xuất, nhập khẩu phải kéo dài thời gian giao nhận.

- Điều này ảnh hưởng thế nào đến kinh tế thế giới, thưa ông?

- Như đã nói, tác động tổng hợp thể hiện ở ba điểm chính: Chi phí năng lượng tăng, chi phí logistics tăng và thời gian vận chuyển kéo dài. Khi các yếu tố đầu vào đồng loạt leo thang, áp lực lạm phát sẽ gia tăng, đặc biệt tại các nền kinh tế phụ thuộc nhập khẩu năng lượng. Kịch bản này từng xảy ra sau khi xung đột Nga – Ukraine diễn ra đầu năm 2022. Giá năng lượng bùng nổ đã đẩy nhiều nền kinh tế lớn như Mỹ và EU vào vòng xoáy lạm phát cao.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu vừa phục hồi sau đại dịch Covid-19 và các cú sốc địa chính trị trước đó, nếu xung đột tại khu vực Trung Đông tiếp tục leo thang, rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng sẽ gia tăng, chi phí toàn cầu bị đẩy lên thêm một nấc mới. Tác động có thể không kém giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng Nga – Ukraine hay đại dịch Covid-19 thậm chí tạo áp lực lớn hơn nếu kéo dài và lan rộng.

- Theo ông, những tuyến vận tải và nhóm hàng hóa nào đang chịu ảnh hưởng trực tiếp từ diễn biến địa chính trị tại khu vực này?

- Trước hết là tuyến qua eo biển Hormuz – huyết mạch vận chuyển dầu thô và khí tự nhiên của các nước xuất khẩu lớn như Iran, Arab Saudi, UAE, Kuwait hay Iraq.

Tuyến thứ hai là hành lang Biển Đỏ – kênh đào Suez (Ai Cập), trục giao thương quan trọng nối châu Á với châu Âu. Ước tính khoảng 15% thương mại hàng hóa toàn cầu đi qua tuyến này.

Nếu tàu không thể lưu thông qua Suez mà phải vòng qua Mũi Hảo Vọng (Nam Phi), thời gian vận chuyển có thể kéo dài thêm gần 20 ngày. Hệ quả là chi phí nhiên liệu tăng, vòng quay container chậm lại, phát sinh tình trạng thiếu vỏ rỗng và đẩy giá thuê container tăng cao – kịch bản từng xảy ra trong đại dịch Covid-19 và giai đoạn đầu xung đột Nga – Ukraine.

Tuyến thứ ba là khu vực Vịnh Ba Tư và các cảng trung chuyển lớn ở Trung Đông – vốn đóng vai trò “hub” (điểm trung chuyển) của cả vận tải biển và hàng không. Khi không phận bị hạn chế, cảng biển gián đoạn hoặc hoạt động cầm chừng, chuỗi logistics toàn cầu lập tức bị tác động dây chuyền.

Về nhóm hàng hóa, chịu ảnh hưởng nặng nhất là năng lượng, gồm dầu thô, khí hóa lỏng (LNG), sản phẩm xăng, dầu và hóa dầu. Giá năng lượng tăng sẽ lan tỏa tới mọi ngành sản xuất do đây là đầu vào thiết yếu.

Bên cạnh đó, toàn bộ hàng hóa vận chuyển qua kênh đào Suez – từ hàng tiêu dùng, nguyên vật liệu đến hàng xuất, nhập khẩu của Việt Nam – đều đối mặt nguy cơ chậm giao, tăng tồn kho.

Đáng chú ý, các mặt hàng rời vận chuyển bằng tàu chuyên dụng, như phân bón, hóa chất, kim loại, ngũ cốc... cũng chịu tác động mạnh. Cước container quốc tế đã tăng từ khoảng 3.000 USD lên xấp xỉ 5.000 USD/container, chưa kể phụ phí bảo hiểm và các khoản phụ thu khác.

Tác động không chỉ dừng ở chi phí vận tải trực tiếp mà còn kéo theo chi phí gián tiếp như tăng tồn kho, kéo dài chu kỳ vốn lưu động, buộc doanh nghiệp phải đặt hàng sớm hơn hoặc tái cấu trúc nguồn cung. Điều này gây áp lực đáng kể lên chi phí logistics và mặt bằng giá toàn cầu.

Sản xuất hàng dệt may xuất khẩu tại Tập đoàn Dệt may Việt Nam. Ảnh: K.G

Sản xuất hàng dệt may xuất khẩu tại Tập đoàn Dệt may Việt Nam. Ảnh: K.G

- Trước những rủi ro địa chính trị ngày càng khó lường, theo ông, doanh nghiệp cần làm gì để tăng tính linh hoạt và khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng?

- Trước hết, doanh nghiệp cần rà soát ngay các tuyến vận tải đang sử dụng, đặc biệt với những lô hàng đi qua kênh đào Suez hoặc eo biển Hormuz. Nếu có rủi ro bị gián đoạn, doanh nghiệp phải chủ động làm việc sớm với hãng tàu để cập nhật lịch trình, đàm phán lại thời gian giao hàng và thông báo kịp thời cho đối tác, tránh phát sinh vi phạm hợp đồng.

Về chi phí logistics, doanh nghiệp nên cân nhắc ký hợp đồng vận tải cố định giá trong ngắn hạn nhằm giảm biến động cước. Với các doanh nghiệp lớn, có thể tính tới giải pháp phòng ngừa rủi ro giá nhiên liệu; đồng thời chủ động tăng dự trữ đối với những nguyên liệu thiết yếu, khó thay thế, song phải tính toán hợp lý để tránh đội chi phí tài chính và lưu kho.

Về dài hạn, doanh nghiệp phải đa dạng hóa nguồn cung và thị trường, hạn chế phụ thuộc quá lớn vào một khu vực. Quan trọng hơn, cần chuyển dịch mô hình từ gia công, lắp ráp sang sản xuất có giá trị gia tăng cao, xây dựng thương hiệu riêng để cải thiện biên lợi nhuận và nâng sức chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.

- Với cơ quan quản lý thì sao, thưa ông?

- Đối với cơ quan quản lý, theo tôi giải pháp trước mắt là theo dõi sát diễn biến địa chính trị, kịp thời cảnh báo rủi ro về vận tải, bảo hiểm và giá năng lượng cho cộng đồng doanh nghiệp. Việc điều hành giá năng lượng cần linh hoạt, bởi đây là đầu vào của toàn bộ nền kinh tế. Song song đó, cần duy trì kênh đối thoại và hợp tác thương mại với các đối tác Trung Đông nhằm hạn chế gián đoạn dòng chảy hàng hóa.

Về chiến lược dài hạn, Nhà nước cần thúc đẩy phát triển công nghiệp nguyên liệu, giảm phụ thuộc nhập khẩu đầu vào; đa dạng hóa thị trường xuất, nhập khẩu; đầu tư mạnh cho hạ tầng logistics, cảng biển và trung tâm trung chuyển. Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế dự trữ chiến lược đối với năng lượng và nguyên liệu quan trọng.

Trong bối cảnh Việt Nam có độ mở kinh tế lớn, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa biên lợi nhuận thấp, nền kinh tế rất nhạy cảm với các cú sốc bên ngoài. Do đó, thay vì chỉ ứng phó khi khủng hoảng xảy ra, cần coi đây là cơ hội tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng bền vững và tự chủ hơn.

-Trân trọng cảm ơn ông!

Lam Giang thực hiện

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/gia-tang-suc-chong-chiu-cua-chuoi-cung-ung-truoc-bien-dong-tai-trung-dong-736061.html