Giải bài toán nhân lực công nghệ sinh học
Công nghệ sinh học đang trở thành lĩnh vực công nghệ chiến lược, giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế tri thức, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm an ninh sinh học quốc gia.

Yêu cầu cấp thiết về xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đủ năng lực làm chủ công nghệ trong giai đoạn mới.
Tuy nhiên, nguồn nhân lực của ngành vẫn còn nhiều hạn chế về số lượng, chất lượng cũng như sự gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu thực tiễn. Trước yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, việc tháo gỡ các “điểm nghẽn” trong đào tạo, thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực công nghệ sinh học đang trở thành nhiệm vụ cấp thiết.
Bài 1: Điểm nghẽn từ đào tạo
Sau hơn 30 năm hình thành và phát triển, công nghệ sinh học ở Việt Nam đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhưng lĩnh vực này vẫn đối mặt nhiều điểm nghẽn như hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực, hạ tầng nghiên cứu, khoảng cách giữa đào tạo với thực tiễn… đòi hỏi sớm có giải pháp tháo gỡ.
"Khát" nhân lực trình độ cao
Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển và ứng dụng lĩnh vực công nghệ sinh học, tiêu biểu như Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước; Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó xác định công nghệ sinh học là một trong những lĩnh vực ưu tiên. Theo Quyết định số 1131/QĐ-TTg ngày 27/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ, công nghệ sinh học được xếp vào một trong 11 nhóm công nghệ chiến lược của quốc gia.
Những định hướng quan trọng này không chỉ tạo động lực thúc đẩy phát triển lĩnh vực này, mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đủ năng lực làm chủ công nghệ trong giai đoạn mới.
Thực tế cho thấy, thời gian qua ngành công nghệ sinh học đã có nhiều đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Theo ông Nguyễn Phú Hùng, Vụ trưởng Vụ Khoa học, Kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), nhiều công nghệ tiên tiến như chỉnh sửa gien CRISPR/Cas9, chỉ thị phân tử, công nghệ tế bào, enzyme-vi sinh từng bước được làm chủ và đưa vào ứng dụng, góp phần tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường. Nhất là trong lĩnh vực y sinh, Việt Nam đã từng bước triển khai nhiều hướng nghiên cứu hiện đại như y học cá thể hóa, giải mã gien, công nghệ tế bào và làm chủ công nghệ sản xuất 10 loại vắc-xin, góp phần giảm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu…
Cùng với đó, nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực công nghệ sinh học ngày càng gia tăng, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, giai đoạn 2021-2025, Việt Nam đã đào tạo 25.406 cán bộ, kỹ thuật về công nghệ sinh học, trong đó có 2.740 cán bộ trình độ sau đại học. Hợp tác quốc tế được mở rộng với nhiều quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước EU và Australia…
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Lê Quan, Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cho biết: “Theo Quyết định số 1002/QĐ-TTg ngày 24/5/2025 phê duyệt Đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025-2035, định hướng đến năm 2045, mục tiêu đặt ra đến năm 2030 mỗi năm có khoảng 5.000 người tốt nghiệp các chương trình đào tạo chuyên sâu về sinh học, công nghệ sinh học và y sinh, trong đó ít nhất 20% đạt trình độ kỹ sư, thạc sĩ hoặc tiến sĩ”.
Hiện cả nước có hơn 50 cơ sở đào tạo liên quan đến công nghệ sinh học, mỗi năm chỉ cung cấp khoảng 3 đến 4 nghìn sinh viên tốt nghiệp. Trong khi đó, hệ sinh thái của ngành đã hình thành với hàng trăm viện nghiên cứu và hơn 300 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khoa học sự sống như nông nghiệp, y sinh, môi trường, thực phẩm và công nghiệp, khiến nhu cầu nhân lực ngày càng gia tăng.
Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, Việt Nam đang ở giai đoạn “khát” nhân lực công nghệ sinh học trình độ cao. Mặc dù đã đạt được một số thành tựu trong chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi, sản xuất vắc-xin và nghiên cứu y sinh, nhưng quy mô ứng dụng vẫn còn hạn chế. Nhiều lĩnh vực như chế biến nông sản, dược phẩm sinh học, xử lý môi trường đòi hỏi đội ngũ kỹ thuật viên lành nghề cùng các chuyên gia có khả năng làm chủ công nghệ mới như: OMICS, chỉnh sửa gene, vắc-xin thế hệ mới, tế bào gốc hay sinh học tổng hợp và đặc biệt ứng dụng AI trong khai thác dữ liệu sinh học, mô phỏng sinh học…
Ngành công nghệ sinh học đang thiếu các “tổng công trình sư” - các chuyên gia đầu ngành có tầm nhìn chiến lược, đủ năng lực dẫn dắt các dự án quy mô lớn và làm chủ các công nghệ nguồn. Đây là những nhà khoa học có uy tín, kinh nghiệm và năng lực vượt trội, có khả năng giải quyết các vấn đề liên ngành, đề xuất giải pháp đột phá nhằm thúc đẩy ứng dụng công nghệ sinh học, góp phần đưa lĩnh vực này đóng góp khoảng 10-15% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2045.
Một thách thức khác đang đặt ra là nhu cầu nhân lực hiện không chỉ tập trung ở các viện nghiên cứu mà đang chuyển dịch mạnh sang khu vực doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Xu hướng này về mặt tích cực cho thấy nhu cầu về phát triển của thị trường nhân lực công nghệ sinh học, của doanh nghiệp và công nghiệp sinh học nói chung, nhưng nó cũng có thể làm suy giảm năng lực nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở công lập mà nếu không có điều chỉnh phù hợp có thể nguy cơ dẫn tới thiếu hụt nguồn nhân lực trình độ cao trong dài hạn.
Đào tạo chưa bám sát nhu cầu thị trường
Công nghệ sinh học là lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực thực nghiệm lớn, nhưng thực tiễn đào tạo hiện nay vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Nhiều chương trình còn nặng về lý thuyết hàn lâm, chậm cập nhật các xu hướng công nghệ mới do thiếu tính linh hoạt trong điều chỉnh, khiến sinh viên tốt nghiệp dù có nền tảng kiến thức cơ bản nhưng còn hạn chế về kỹ năng thực hành chuyên sâu và kinh nghiệm làm việc trong môi trường nghiên cứu, sản xuất hiện đại. Bên cạnh đó, sự kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp công nghệ sinh học trong nước còn chưa chặt chẽ, dẫn đến đào tạo chưa thật sự bám sát nhu cầu của thị trường.
Theo các chuyên gia, không ít cơ sở đào tạo vẫn thiếu hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại; chi phí hóa chất và vật tư tiêu hao cao khiến việc tổ chức thực hành cho sinh viên gặp nhiều khó khăn, dẫn tới tình trạng “học chay” hoặc chỉ tiếp cận thiết bị cơ bản. Trong khi đó, dù có đội ngũ giảng viên vững về học thuật, đạt chuẩn học hàm, học vị quốc tế, nhưng nhiều người vẫn thiếu kiến thức về quản trị dự án, sở hữu trí tuệ và định hướng thị trường cho sản phẩm khoa học. Điều này phần nào làm hạn chế sự gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn của sản xuất và đời sống.
Một hạn chế hiện nay là năng lực vận hành sản xuất ở quy mô công nghiệp còn yếu. Nhiều sinh viên có thể thực hành tốt trong phòng thí nghiệm, nhưng lại gặp khó khăn khi tham gia vận hành các dây chuyền sản xuất tự động tại doanh nghiệp. Tiến sĩ Phạm Châu Huỳnh, Giám đốc Trung tâm Công nghệ sinh học Đà Nẵng cho biết: “Khoảng trống lớn nhất hiện nay là thiếu đội ngũ nhân lực có khả năng kết nối giữa phòng thí nghiệm với nhà máy và thị trường”.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Huy, Phó Trưởng khoa Khoa học Sự sống, Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, thách thức lớn hiện nay không phải là thiếu người học, mà làm thế nào để đào tạo nguồn nhân lực có thể đáp ứng ngay yêu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng. Để thu hẹp khoảng cách này, cần tăng cường phối hợp giữa nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; đồng thời đầu tư hạ tầng, chuẩn hóa chương trình theo hướng liên ngành và tăng cường thực hành. Khi đó, nguồn nhân lực công nghệ sinh học của Việt Nam mới có thể đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
(Còn nữa)
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/giai-bai-toan-nhan-luc-cong-nghe-sinh-hoc-post948319.html












