Giải cơn khát vật liệu xây dựng tại các dự án trọng điểm
Sáu địa phương không thể tự cân đối nguồn vật liệu xây dựng thông thường, trong đó riêng Hà Nội thiếu khoảng 836 triệu m3 đá, cát và đất san lấp cho các dự án trọng điểm.
Điều phối từ nơi có nguồn đến nơi thiếu
Tại Cà Mau, nhu cầu vật liệu xây dựng được báo cáo còn thiếu khoảng 22 triệu m3 đá và 20,7 triệu m3 cát san lấp. Hưng Yên cần hỗ trợ 9,5 triệu m3 đá, 20 triệu m3 cát san lấp và 13,3 triệu m3 đất san lấp, trong khi Tây Ninh cần thêm 15,6 triệu m3 cát san lấp.
Những con số này nằm trong phương án tạm thời điều phối quốc gia về vật liệu xây dựng phục vụ các công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia giai đoạn 2026-2030, vừa được Bộ Công thương hoàn thiện và gửi lấy ý kiến các địa phương trước khi báo cáo Chính phủ.

Một góc dự án Vành đai 4 - Vùng Thủ đô. Ảnh: moc.gov.vn
Theo đó, Hà Nội, Hưng Yên, Tây Ninh, Cà Mau, Cần Thơ và Ninh Bình thuộc nhóm địa phương không thể tự cân đối nguồn vật liệu xây dựng thông thường.
Cơ chế điều phối chia các địa phương thành ba nhóm theo khả năng cung ứng. Nhóm thứ nhất gồm 17 tỉnh, thành phố có thể tự bảo đảm nguồn vật liệu và hỗ trợ địa phương khác. Nhóm thứ hai gồm 11 địa phương còn thiếu nhưng có khả năng tự cân đối bằng cách tăng công suất, mở rộng khai thác, xuống sâu hoặc cấp mới mỏ. Nhóm thứ ba gồm sáu địa phương không thể tự cân đối nguồn cung.
Cách phân nhóm này là cơ sở để thiết lập các hành lang điều phối liên vùng, thay vì để từng địa phương tự tìm nguồn vật liệu khi phát sinh nhu cầu. Nguyên tắc đặt ra là ưu tiên công trình, dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia; lựa chọn nguồn có cự ly và phương thức vận chuyển hợp lý để giảm chi phí đến chân công trình; việc điều phối không phụ thuộc địa giới hành chính.
Tại Hà Nội, nguồn đá hỗ trợ được xác định từ sáu địa phương nhằm hỗ trợ cho các dự án ở Thủ đô: Ninh Bình hỗ trợ 50 triệu m3, Phú Thọ 100 triệu m3, Thái Nguyên 50 triệu m3, Tuyên Quang 22 triệu m3, Thanh Hóa 30 triệu m3 và Nghệ An 20,25 triệu m3.
Đối với đất san lấp, nguồn hỗ trợ được dự kiến từ Phú Thọ với 70 triệu m3, Bắc Ninh 60 triệu m3, Ninh Bình 60 triệu m3, Thái Nguyên 34 triệu m3 và Tuyên Quang 20 triệu m3.
Trong khi đó, nguồn cát được đặt trong một hướng xử lý riêng. Hà Nội đang đề xuất dự án nạo vét lòng dẫn sông Hồng nhằm cải thiện khả năng thoát lũ, bảo đảm giao thông thủy nội địa, kết hợp thu hồi khoáng sản là cát. Theo kế hoạch điều phối, nguồn cát thu hồi từ dự án này có thể cung cấp cho các công trình trên địa bàn thành phố và địa phương lân cận.
Với Hưng Yên, Ninh Bình được giao hỗ trợ 9,5 triệu m3 đá. Phần cát san lấp được tính đến thông qua việc rà soát, xem xét cấp mới các mỏ đã được đánh giá tiềm năng. Phương án cũng nêu các khu vực cát chưa có trong quy hoạch được dự kiến có quy mô 89,5 triệu m3. Đối với đất san lấp, Hưng Yên được đề nghị chủ động làm việc với Quảng Ninh, Ninh Bình và Tuyên Quang để tìm nguồn hỗ trợ, bao gồm đất đá từ bãi thải mỏ than
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, phương án dự kiến huy động đá từ An Giang, TP.HCM và Đồng Nai hỗ trợ các địa phương có nhu cầu. Riêng Cà Mau được phân bổ nguồn đá dự kiến gồm 1,1 triệu m3 từ An Giang, 10,5 triệu m3 từ TP.HCM và 10,5 triệu m3 từ Đồng Nai. Với cát san lấp, Cần Thơ dự kiến hỗ trợ 17 triệu m3, Đồng Tháp 2,3 triệu m3 và Vĩnh Long 1,2 triệu m3.
Các khối lượng đá, cát dự kiến cung cấp cho Cà Mau bao gồm cả phần đã được cấp và dự kiến hỗ trợ cho bốn dự án trọng điểm quốc gia tại tỉnh do Bộ Quốc phòng làm chủ đầu tư. Trong khi đó, TP.HCM được giao hỗ trợ 2,5 triệu m3 đá cho cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng giai đoạn 1.
Đối với Tây Ninh, phương án trước mắt phân bổ 4 triệu m3 cát san lấp từ Vĩnh Long và Đồng Tháp, mỗi địa phương 2 triệu m3. Phần nhu cầu còn lại được đặt trong phương án rà soát khả năng tự cân đối của tỉnh.
Tuy nhiên, theo phương án điều phối, Bộ Công thương đánh giá Tây Ninh có tiềm năng đất san lấp tương đối lớn, bên cạnh tiềm năng cát sông trên địa bàn. Do đó, Bộ tính toán trước mắt các tỉnh Vĩnh Long, Đồng Tháp có trách nhiệm điều phối, hỗ trợ tỉnh Tây Ninh 4 triệu m3 (mỗi tỉnh 2 triệu m3).
Đồng thời, đề nghị địa phương ưu tiên sử dụng nguồn cung tại chỗ, đặc biệt là đất san lấp, nhằm hạn chế vận chuyển xa và giảm áp lực khai thác cát sông. Trường hợp vẫn không đáp ứng nhu cầu, địa phương sẽ báo cáo phương án hỗ trợ tiếp theo sau khi có kết quả đề án điều tra, đánh giá tiềm năng cát, cuội, sỏi lòng sông vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Tại Ninh Bình, việc chưa xác định rõ nhu cầu dành riêng cho các dự án trọng điểm khiến phương án chưa phân bổ khối lượng hỗ trợ cụ thể. Tỉnh được yêu cầu rà soát theo từng nhóm dự án, chủ động làm việc với các địa phương lân cận và cập nhật nhu cầu vào hệ thống điều phối quốc gia khi hệ thống được hoàn thành, đưa vào sử dụng.
Việc điều phối được thiết kế trên cơ sở phân biệt nguồn cung đã sẵn sàng với nguồn mới có tiềm năng. Phương án ưu tiên các khu vực khoáng sản đã được cấp phép khai thác còn hiệu lực và các khu vực thu hồi khoáng sản đủ điều kiện theo quy định.
Nguồn cung tự nguyện chỉ được huy động khi tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc có quyền khai thác đồng thuận; các khu vực mới được điều tra, đánh giá tiềm năng sẽ được xem xét khi nguồn cung sẵn sàng không đáp ứng nhu cầu.
Từ câu chuyện nguồn vật liệu của Vành đai 4 vùng thủ đô
Ngày 2/10/2026, Phó thủ tướng Phạm Gia Túc giao Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng cùng các địa phương rà soát số lượng, trữ lượng thực tế các mỏ vật liệu xây dựng thông thường và quyết định phương án điều phối giữa các tỉnh, thành phố.

Hà Nội đang tính toán dự án nạo vét lòng dẫn sông Hồng nhằm cải thiện khả năng thoát lũ, bảo đảm giao thông thủy nội địa, kết hợp thu hồi khoáng sản là cát - góp phần giải bài toán vật liệu cho loạt dự án trọng điểm. Ảnh: Hoàng Anh.
Tiếp đó, Bộ Công thương giao Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam tổ chức hai cuộc làm việc với các địa phương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và phía Bắc để xây dựng phương án điều phối quốc gia về vật liệu xây dựng, trước khi lấy ý kiến các địa phương liên quan.
Theo Kết luận thanh tra số 682/KL-TTCP ngày 25/9/2026, Thanh tra Chính phủ đã kiểm tra công tác quản lý, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng tại Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên, đồng thời đánh giá khả năng bảo đảm nguồn vật liệu phục vụ dự án đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội.
Cụ thể dự án Vành đai 4 dài khoảng 113 km, tổng mức đầu tư khoảng 85.563 tỷ đồng. Riêng dự án thành phần 3, đầu tư xây dựng tuyến cao tốc đi qua ba tỉnh, thành phố, có nhu cầu khoảng 4 triệu m3 đá xây dựng, 6,7 triệu m3 đất đắp nền K95, K98 và 3,9 triệu m3 cát.
Từ khi khởi công ngày 6/9/2025 đến hết thời kỳ thanh tra ngày 30/6/2026, doanh nghiệp dự án và các nhà thầu đã mua vật liệu từ các mỏ thương mại để phục vụ tiến độ thi công. Tuy nhiên, từ ngày 1/7/2026 đến khi hoàn thành dự án vào cuối năm 2027, khối lượng vật liệu còn cần huy động gồm 3,6 triệu m3 đá, 6,26 triệu m3 đất đắp và 3,32 triệu m3 cát.
Kết luận thanh tra cho biết nhu cầu vật liệu xây dựng phục vụ các dự án thành phần đường song hành trên địa bàn từng tỉnh, thành phố đã cơ bản được bảo đảm. Theo Thanh tra Chính phủ, kết quả này đến từ chủ động của cơ quan quản lý dự án, nhà đầu tư, nhà thầu cùng sự hỗ trợ của các địa phương có dự án đi qua và một số địa phương lân cận như Hà Nội, Bắc Ninh, Phú Thọ, Lạng Sơn.
Tuy vậy, kết luận thanh tra cũng ghi nhận một số tồn tại trong quản lý. Sau khi Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 có hiệu lực và các địa phương được sắp xếp, sáp nhập, quy chế phối hợp giữa các địa phương trong quản lý nhà nước về khoáng sản chưa được kịp thời cập nhật theo quy định mới.
Trường hợp mỏ đất Vườn Tùng tại Bắc Ninh cho thấy một số vấn đề phát sinh trong quá trình khai thác vật liệu phục vụ dự án. Mỏ được cấp phép theo cơ chế đặc thù để cung cấp đất san lấp cho Vành đai 4 nhưng phải dừng hoạt động từ ngày 25/4/2026 do chất lượng vật liệu không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật.
Theo kết luận thanh tra, cơ quan chuyên môn chưa kịp thời kiểm tra mỏ và tham mưu biện pháp xử lý theo chức năng được giao. Việc phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với mỏ này cũng chậm 132 ngày so với thời hạn quy định.
Thanh tra Chính phủ kiến nghị giao Bộ Công thương nghiên cứu cơ chế điều chuyển khối lượng vật liệu đã được chỉ định theo cơ chế đặc thù nhưng không còn nhu cầu sang các dự án khác đang cần, bảo đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính.
Cơ quan thanh tra đồng thời kiến nghị tiếp tục rà soát trữ lượng, quy hoạch khoáng sản và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục theo cơ chế “Luồng xanh”, song song với việc xử lý các tồn tại, vi phạm theo quy định.
Với phương án tạm thời điều phối quốc gia về vật liệu xây dựng đã được Bộ Công thương hoàn thiện và gửi lấy ý kiến địa phương, phần việc trước mắt là xác định khối lượng có thể cung cấp thực tế, đối chiếu với nhu cầu và tiến độ từng công trình, đồng thời xử lý các vướng mắc liên quan đến thủ tục, công suất khai thác và chất lượng mỏ.
