Giải đáp quy định về vùng đặc biệt khó khăn và chế độ, chính sách theo Nghị định 154
Bộ Nội vụ đã có văn bản cho ý kiến về chính sách với vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn và giải quyết chế độ, chính sách với cán bộ, công chức theo Nghị định số 154.

Đội ngũ cán bộ cơ sở ở Lâm Đồng. (Ảnh nhandan.vn)
Quy định vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn
Bộ Nội vụ đã có công văn số 4884/BNV-VP gửi Sở Nội vụ tỉnh Lâm Đồng về việc hướng dẫn khó khăn, vướng mắc trong thực hiện một số nghị định của Chính phủ.
Trước đó, Bộ Nội vụ nhận được Công văn số 2223/SNV-CCVC ngày 28/4/2026 của Sở Nội vụ tỉnh Lâm Đồng về việc hướng dẫn khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các nghị định của Chính phủ.
Theo nội dung đề nghị tại Công văn, Bộ Nội vụ có ý kiến về nội dung liên quan đến Nghị định số 76/2019/NĐ-CP.
Về vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP, theo khoản 2 Điều 1 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 8/10/2019 của Chính phủ, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm các xã khu vực III thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, xã đảo đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Theo điểm b khoản 2 Điều 13 Nghị định số 272/2025/NĐ-CP ngày 16/10/2025 của Chính phủ thì Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có trách nhiệm phê duyệt danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh.
Theo điểm c khoản 1 Điều 13 Nghị định số 272/2025/NĐ-CP thì Bộ Dân tộc và Tôn giáo có trách nhiệm tổng hợp, ban hành quyết định công bố danh sách thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn và xã khu vực I, II, III trên phạm vi cả nước. Theo đó, Bộ trưởng Dân tộc và Tôn giáo đã ban hành Quyết định số 60/QĐ-BDTTG ngày 29/1/2026 công bố danh sách các thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực I, II, III giai đoạn 2026-2030 và Quyết định số 104/QĐ-BDTTG ngày 27/2/2026 công bố danh sách các thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực I, II, III giai đoạn 2026-2030 đợt 2.
Về đối tượng tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP, đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP là người làm việc theo quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ; Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ và các văn bản sửa đổi, bổ sung.
Về trợ cấp lần đầu khi nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn tại Nghị định số 76/2019/NĐ-CP, theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP thì trợ cấp lần đầu áp dụng đối với đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này khi nhận công tác lần đầu ở cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn.
Về thời gian làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn làm căn cứ tính hưởng phụ cấp công tác lâu năm, Điều 5 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP đã quy định về phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn. Điều 13 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP đã quy định về thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ tính hưởng các chế độ phụ cấp, trợ cấp.
Giải quyết chế độ, chính sách theo Nghị định 154
Liên quan đến giải quyết chế độ, chính sách theo Nghị định số 154/2025/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định 154), theo Bộ Nội vụ, theo quy định tại Nghị định số 154/2025/NĐ-CP (có hiệu lực kể từ ngày 15/6/2025) thì trường hợp cán bộ, công chức có 1 năm xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ thuộc đối tượng tinh giản biên chế.
Tuy nhiên, theo quy định của khoản 1 Điều 32 Luật Cán bộ, công chức năm 2025 và khoản 3 Điều 57 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP (đều có hiệu lực từ ngày 1/7/2025) thì công chức bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ thuộc đối tượng giải quyết thôi việc và giải quyết chế độ, chính sách theo quy định tại Điều 58 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP.
Căn cứ quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 thì trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn và trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.
Do đó, trường hợp công chức bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ thuộc đối tượng áp dụng chính sách quy định tại Luật Cán bộ, công chức năm 2025 và Nghị định số 170/2025/NĐ-CP, không thuộc đối tượng áp dụng chính sách tinh giản biên chế quy định tại Nghị định số 154/2025/NĐ-CP.







![[Video] Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Ủy ban Pháp luật và Tư pháp phải chủ động trong kiến tạo thể chế phát triển](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_05_21_14_55213699/da521fe02cabc5f59cba.jpg)


