Giải mã bí ẩn 3 ngôi mộ cổ ở Quảng Nam cũ, nay là Đà Nẵng: Những phát hiện chấn động về cuộc đời nữ sĩ Hồ Xuân Hương
Từ những ký tự Hán học trên minh bia, bia mộ, đến các hình khối điêu khắc kỳ lạ, nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng vừa công bố những lời giải mã đầy bất ngờ, hé mở mối liên hệ trực tiếp giữa quần thể ba ngôi mộ cổ tại Quảng Nam, với cuộc đời và thơ văn của nữ sĩ Hồ Xuân Hương'Bà chúa thơ Nôm'-Danh nhân văn hóa thế giới.
Mối liên hệ từ thơ ca đến kiến trúc
Sau quá trình đối chiếu kỹ lưỡng giữa gia phả, phong tục mai táng ở địa phương và đặc biệt là soi chiếu qua lăng kính thi ca của Hồ Xuân Hương, các nhà nghiên cứu trong nhóm nghiên cứu của nhà báo Nghiêm Thị Hằng, đã tìm thấy "chìa khóa" giải mã lăng mộ năm 1850 của Huỳnh Hoàn Nhân, ngôi mộ gây nhiều tranh cãi về thân thế người nằm dưới mộ.

Điểm nhấn của lăng mộ này nằm ở hai trụ cổng xoáy ốc khổng lồ cùng hệ thống phù điêu xoáy ốc bao quanh lăng, được cho là hiện thực hóa hình tượng trong bài thơ nổi tiếng “Ốc nhồi” của Hồ Xuân Hương trong tập thơ “Lưu Hương ký”
Đáng chú ý, thân phận thực sự của người nằm dưới mộ cũng được đặt dấu hỏi lớn. Dòng chữ trên bia mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân của em người trai thứ ba “Đệ Tam Lang” khi kết nối với khát vọng “Ví đây đổi phận làm trai được” trong bài “Đề đền Sầm Nghi Đống” của nữ sĩ, đã gợi mở về một sự hoán đổi thân phận đầy bi kịch tại ngôi mộ này.
Biểu tượng hóa danh tính: Hồ Phi Mai
Một trong những phát hiện then chốt là việc giải mã tên nguyên danh của Hồ Xuân Hương là Hồ Phi Mai. Danh tính này được thể hiện tinh tế qua các phù điêu “Tùng - Mai” và hình ảnh lộc bình hoa mai chạm khắc tại bình phong tiền lăng mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân. Sự đồng nhất về biểu tượng này củng cố giả thuyết về sự hiện diện mộ nữ sĩ tại quần thể kiến trúc này như một bí ẩn gửi đời sau.

Những phù điêu mang thông điệp “tử tù”
Nhóm nghiên cứu đi sâu vào các chi tiết dị biệt tại ba ngôi mộ : Mộ Giày, mộ 1856 Phan Thị (vợ cả) và mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân, đều khắc trên bia mộ hình tượng con dơi ngậm nửa vòng khuyên (vòng tròn xích sắt của tử tù), liên quan đến người chồng là ông Trần Phúc Hiển. Bên lề 3 bia mộ đều chạm khắc hình người mặt dơi có dây thắt chéo cổ (liên quan đến việc tử tù Trần Phúc Hiển thắt cổ tự tử khi thi hành án. Hình chạm khắc "dây tơ hồng nhân duyên" xuất hiện xuyên suốt tại ba ngôi mộ này, theo đó dây tơ hồng có tua rua 3 chấm tại bia mộ tử tù của người chồng, ký hiệu cho nhân duyên với người vợ thiếp, được khắc lại trên bia mộ 1850 của người vợ thiếp. Đặc biệt, tại bình phong tiền mộ Phan Thị (1856), các nhà nghiên cứu khoa học đã giải mã hình khắc lồng ghép ba gương mặt, được cho là khắc họa gương mặt vợ chồng tử tù Trần Phúc Hiển - vợ thiếp Hồ Xuân Hương và vợ cả Phan Thị. Trên bình phong tiền của mộ 1856 Phan Thị vợ cả còn đắp nổi chiếc bình đựng 2 chiếc đũa và 1 chiếc thìa, tượng trưng cho gia đình ông Trần Phúc Hiển (2 người vợ một người chồng). Còn ở lăng mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân- mộ của người vợ thiếp, có bức phù điêu lớn hình ô van, giống như hình o van phần mộ Giày của tử tù Trần Phúc Hiển- người chồng. Trên đỉnh bài minh mộ Giày Thầy Lánh có đắp nổi hình con dơi, đó là ký hiệu tên ông Phúc Hiển có chữ Phúc (辐) đồng âm với con dơi “Búc biên” trong tiếng hán
Đính chính sai lầm trong cách dịch bia ký
Dựa trên từ điển trích dẫn và quy tắc ngữ pháp Hán học, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những hiệu đính quan trọng trong báo cáo của Bảo tàng Quảng Nam số 191/BC-BT ngày 17/8/2023.
Về danh xưng: Bia mộ 1850 “Huỳnh Hoàn Nhân 黄 完 人”, thì (chữ nhân 人) là danh từ chỉ con người, (chữ nhân 闉 theo từ điển trích dẫn) mới là danh từ chỉ tên người. Do đó, dòng chữ Huỳnh Hoàn Nhân này phải được hiểu là: “Người hoàn hảo, em trai thứ ba tự viết họ Huỳnh”. Như vậy mộ 1850 không phải là mộ của người có tên tự là Huỳnh Hoàn Nhân như bản dịch của Bảo tàng Quảng Nam
Về quan hệ huyết thống: Chữ “Hiếu tử Văn Dục” trên bia mộ Phan Thị và Huỳnh Hoàn Nhân, thường bị hiểu lầm là con trai của hai người. Tuy nhiên, nếu là con ruột, bia mộ bắt buộc phải ghi "Trưởng nam" hoặc "Thứ nam" và mang họ cha (Huỳnh Văn Dục). Việc chỉ ghi "Hiếu tử" cho thấy đây là người cháu có hiếu đứng ra phụng lập, gián tiếp khẳng định hai người nằm dưới mộ không phải là vợ chồng như các nhận định trước đây của Bảo tàng Quảng Nam.
Cũng vẫn chuyện dịch bia mộ chưa đúng làm sai ý nghĩa lịch sử của bia mộ. Cụ thể thể ở mộ 1856 Phan Thị, bia mộ tiếng Hán ghi rõ 元 配 潘 氏 之 墓 ( nguyên phối Phan Thị chi mộ ) dịch nghĩa “Đây là mộ của bà Phan Thị vợ cả”. Thế nhưng Bảo tàng Quảng Nam khi dịch đã bỏ mất chữ 元 配 vợ cả, dẫn đến làm trong nghiên cứu quan hệ vợ chồng, vợ cả vợ thiếp. Chiếu theo phong thủy tập quán chôn cất ở địa phương, mộ người vợ cả ở phía ngoài, mộ vợ thiếp phải đi qua mộ vợ cả vào trong. Điều này trên thực địa thể hiện mộ 1856 Phan Thị, là mộ vợ cả ở phía ngoài và mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân (tức vợ thiếp Hồ Xuân Hương) phải đi qua mộ vợ cả vào phía trong.
Những công bố này, không chỉ làm sáng tỏ các giá trị di sản tại Quảng Nam, mà còn mở ra một chương mới, trong việc tìm hiểu cuộc đời thực của Hồ Xuân Hương sau những thăng trầm lịch sử, liên quan đến phần mộ thay tên đổi họ của nữ sĩ.
(Còn nữa)
Đón đọc Bài 3: Cần sự bắt tay giữa nhà nghiên cứu với TP Đà Nẵng: Cho “ Dự án tìm phần mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương”










