Giải mã mặt nạ tạm tinh đôi

Văn hóa Tam Tinh Đôi là nền văn hóa Đồng Thau phát triển rực rỡ vào thế kỷ 12-11 trước Công nguyên (TCN) ở vùng đồng bằng Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc. Các mặt nạ bằng đồng hay vàng là một dạng di vật độc đáo của nền văn hóa này. Trong đó, chiếc mặt nạ lớn nhất dài 138 cm, rộng 85 cm, cao 66 cm, nặng 65 kg với đôi mắt hình ống dài 16,5cm chĩa thẳng ra phía trước là vật kỳ bí nhất.

Chiếc mặt nạ thể hiện cách điệu và siêu thực một khuôn mặt vuông với miệng rộng, mũi khoằm, mắt xếch, tai to xòe rộng, hai đầu tai nhọn, một lỗ vuông ở giữa trán và bốn lỗ vuông nhỏ ở hai bên, có lẽ để gắn mặt nạ vào cột lễ.

Cho đến nay đã có vài giả thuyết về nguồn gốc và chức năng của đôi mắt hình trụ trên chiếc mặt nạ này.

Giả thuyết phổ biến nhất coi chiếc mặt nạ đó thể hiện Tàm Tùng - vị vua đầu tiên của người Thục cổ, theo truyền thuyết có “đôi mắt phóng ra ngoài” có thể nhìn thấu ngàn dặm. Không ai hình dung ra “đôi mắt phóng ra ngoài” đó là thế nào cho đến khi phát hiện chiếc mặt nạ trên.

Tên gọi Tàm Tùng có nghĩa là Người Chăn Tằm. Truyền thuyết cũng kể vị vua này là người đã đưa nông nghiệp và nghề nuôi tằm dệt lụa vào nước Thục. Tượng hình chữ Thục cũng là con tằm. Từ các tên gọi trên, có người đã thử tìm mối liên hệ giữa đôi con ngươi hình trụ của chiếc mặt nạ với người của con tằm, nhưng không có kết quả.

Một giả thuyết khác coi chiếc mặt nạ thể hiện khuôn mặt của thần Chúc Long, vị thần trong truyền thuyết “mở mắt tạo ban ngày, nhắm mắt tạo ban đêm”.

Giả thuyết mới nhất coi chiếc mặt nạ đó thể hiện mặt Thần Cú Suy Vưu, ông tổ của người Tam Miêu và cũng là vị thần bảo hộ nghề đúc đồng của nước Thục cổ.

Người Tam Miêu là ai?

Trong cổ thư Trung Quốc, Tam Miêu là tên gọi những người có gốc từ người Cửu Lê ở vùng ven biển phía Đông Trung Quốc. Thủ lĩnh của họ là Xi Vưu đã nhiều lần đánh bại Hoàng Đế - ông Tổ của người Hoa Hạ trong cuộc chiến giành vùng Trung Nguyên. Nhưng cuối cùng, Xi Vưu vẫn bị đánh bại và bị giết...

Người Tam Miêu thường được coi là tổ tiên trực tiếp của người Miêu hay Mông ngày nay. Tuy nhiên, người Tam Miêu xưa cũng là tổ tiên của nhiều nhóm được gọi là Đông Di, Bách Việt sau này.

Cách đây khoảng 5.000 năm, một nhóm người Tam Miêu bị lưu đày lên vùng núi Tam Nguy, phía Tây Bắc Tứ Xuyên, thuộc tỉnh Cam Túc ngày nay. Tại đó, họ đã tiếp thu được nghề đúc đồng từ dân du mục đến từ vùng thảo nguyên Trung Á. Họ cũng biết đến các quan niệm mới của phương Tây về loài cú, một loài chim quen thuộc với họ.

Nếu trong tâm thức cổ phương Đông, cú là một biểu tượng của bóng đêm, thần chết và thế giới bên kia thì trong tâm thức cổ phương Tây, cú lại là một biểu tượng của trí tuệ, tri thức và ma thuật bí truyền, của trực giác và tính kiên nhẫn để có thể nhìn thấu bóng đêm, khám phá ra muôn điều bí ẩn…

Với người Hi Lạp, La Mã xưa, cú được coi là biểu tượng của nữ thần Athen, vị thần của sự thông thái, nghề thủ công và các chiến binh. Với người Ai Cập xưa, cú là một hiện thân của thần Thoth, vị thần của sự khôn ngoan gắn với tri thức…

Tính biểu tượng trên của cú có vẻ rất thích hợp với công việc của người thợ đúc đồng, từ đó, người Tam Miêu ở Cam Túc coi cú là vị thần bảo hộ của nghề đúc đồng, tiếp đó là một vật tổ, một biểu tượng của mình.

Cách đây khoảng 4.000 năm, nhóm Tam Miêu chủ nhân của nền văn hóa Thạch Gia Hà, nền văn hóa tạo ra những đồ đồng đỏ đầu tiên ở Nam Trung Quốc đã lập được ra nước Tam Miêu ở vùng thuộc các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây ngày nay.

Tiếp đó, cách đây hơn 3.500 năm, người Tam Miêu trở thành một trong các tộc người chính của nước Việt Chương có kinh đô ở Tân Can (Giang Tây) với nền tảng vật chất là văn hóa Đồng Thau Ngô Thành (1500- 1000 TCN). Sản phẩm đặc sắc, tiêu biểu nhất của văn hóa này là các chiếc trống, não, bạt bằng đồng cỡ lớn.

Trống đồng của văn hóa Ngô Thành (thế kỷ 14-13 TCN) là dạng trống đồng mô phỏng hình trống da, trên đỉnh có hình đôi chim cú thể hiện thần đúc đồng và cũng là thần trống đồng. Trên thân trống có khắc hình Ông Tổ Xuy Vưu cũng là thần sấm-thần mưa-thần chiến tranh của người Tam Miêu với mặt người, hai mắt to tròn lồi như mắt cú, đầu có sừng trâu…

Hình Xuy Vưu cũng trở thành một dạng mặt nạ đồng với nhiều biến thể và tên gọi khác nhau: mặt nạ thần, mặt nạ người-quái vật, mặt nạ pháp sư, mặt nạ vua-thần… Chúng được các vua chúa, pháp sư, tướng lĩnh Tam Miêu, Bách Việt đeo trong các nghi lễ thờ cúng tổ tiên và khi ra trận. Khi mang mặt nạ, hồn tổ tiên sẽ nhập vào pháp sư, vua chúa, đem lại cho họ sức mạnh siêu nhiên.

Mặt khác, hình mặt nạ đó cũng được khắc nổi trên đồ đồng chứa đồ ăn cúng lễ tổ tiên của nhà Thương (thế kỷ 16-11 TCN) của người Hoa. Có nhiều cách lý giải về hình mặt nạ này: một biểu tượng cho sự giao tiếp thần bí giữa người sống và người chết hóa thần linh; một biểu tượng của sự che chở của tổ tiên; một biểu tượng của tính phàm ăn của người chết v.v...

Cách đây khoảng 3.200 năm, các nhóm Tam Miêu-Bách Việt đã hội tụ và lập ra nước Thục ở Tứ Xuyên với văn hóa Tam Tinh Đôi phát triển rực rỡ. Ngôi thành cổ nhất của nước Thục ở đây có hình dáng và kỹ thuật xây dựng tương tự với thành Thạch Gia Hà ở Hồ Bắc. Đặc biệt, đầu và mặt nạ đồng của văn hóa Tam Tinh Đôi cũng có mắt, mũi, miệng, tai, mũ, tóc khá giống các đầu tượng ngọc của văn hóa Thạch Gia Hà. Đồ đồng ở Tam Tinh Đôi có đồng vị chì tương tự như các đồ đồng Ngô Thành... Đặc biệt, người Tam Tinh Đôi đã kết thừa và phát triển tới một đỉnh cao mới nghề đúc đồng cùng tín ngưỡng vật tổ chim của tổ tiên.

Tín ngưỡng vật tổ chim của người Thục cổ

Trong các mối liên hệ đó, chiếc mặt nạ khủng ở Tam Tinh Đôi ra đời được tạo ra thể hiện vị vua-thần đầu tiên của nước Thục cổ mang thần thái của Suy Vưu, ông tổ cú của người Tam Miêu xưa.

Ngoài đôi tai hình cách chim gợi tới đôi cánh cú, đặc biệt, vị vua thần này có đôi mắt lồi hình ống dài. Các nhà sinh vật học hiện đại cho biết thực tế, mắt cú không hình tròn mà là hình ống được cố định bởi các vòng xương cứng giúp nó nhìn xuyên đêm tối với thị lực gấp 50-100 lần mắt người. Chưa rõ bằng cách nào người Thục cổ biết được điều này?

Trong truyền thuyết và cổ thư, nước Thục cổ có 5 vị vua là Tàm Tùng, Bá Quán, Ngư Phù, Đỗ Vũ và Khai Minh. Thực ra, đó là tên của 5 triều đại, mỗi triều đại kéo dài hàng trăm năm.

Rõ ràng, chim, dù là chim thực hay chim huyền thoại, chim bản địa hay chim ở vùng khác, là hình tượng phổ biến nhất được thể hiện cách điệu và siêu thực trên các di vật Tam Tinh Đôi. Tín ngưỡng vật tổ chim thể hiện rõ trên các tượng chim mặt người, hay tượng người có trang phục chim. Vị vua của người Tam Tinh Đôi không mang tên Cú, có lẽ bởi vào thời này, theo quan niệm phổ biến phương Đông, cú là một loài chim gắn với đêm tối, người chết, âm phủ và sự không may mắn…

Tuy nhiên, tên ba vị vua tiếp theo lại có nghĩa rõ ràng một loài chim. Cụ thể, vị vua thứ 2 tên Bá Quán là một loài Cò; vị vua thứ 3 tên Ngư Phù tức chim Cốc; vị vua thứ 4 Đỗ Vũ tức chim Cuốc.

Một bằng chứng cho tín ngưỡng vật tổ chim cốc triều đại Ngư Phù là cây quyền trượng dát vàng khắc một đôi chim cốc, mỗi con vác một mũi tên cắm vào một con cá lớn được tìm thấy ở Tam Tinh Đôi.

Bằng chứng cho tín ngưỡng vật tổ chim cuốc là một loạt truyền thuyết rất quen thuộc với người Việt kể vua Đỗ Vũ, lúc sống gọi là Vọng Đế, sau khi chết đã hóa thành chim cuốc với tiếng kêu bi thương thể hiện nỗi đau mất nước hay nhớ nước…

Tên vị vua thứ 5 của nước Thục cổ là Khai Minh-tức Mặt Trời Mọc. Một lá vàng biểu trưng của triều đại này có khắc hình 4 con chim cổ dài đang bay quanh hình mặt trời 12 cánh cho thấy vật tổ của triều đại này cũng là cò.

Thời Tam Tinh Đôi, nước Thục tiếp tục là nơi giao lưu văn hóa Đông-Tây. Người Thục đúc những chiếc mặt nạ vàng, quyền trượng vàng từng có trong văn hóa cổ Hi Lạp (thế kỷ 16 TCN), Ai Cập (thế kỷ 14 TCN). Không loại trừ đã có những thợ cả đúc đồng từ phương Tây đến nước Thục. Những nét phương Tây trên chiếc mặt nạ gợi tới khuôn mặt của những người này và làm cho nó càng kỳ bí linh thiêng với người Thục.

Tóm lại, giải mã chiếc mặt nạ có con ngươi hình trụ chính là giải mã lịch sử của người Thục-nước Thục cùng với tín ngưỡng vật tổ chim của họ.

Tạ Đức

Nguồn ANTG: https://antg.cand.com.vn/do-day/giai-ma-mat-na-tam-tinh-doi-i799283/