Giải pháp bền vững cho giáo dục đạo đức học sinh
Trong bối cảnh công nghệ, Internet và biến động xã hội tác động ngày càng mạnh mẽ đến thanh thiếu niên, giáo dục đạo đức và lối sống cho học sinh không thể là nhiệm vụ riêng của nhà trường.

Trường Mầm non Ứng Hòe (Vĩnh Lại, Hải Phòng) phối hợp với công an xã giáo dục an toàn giao thông cho trẻ. Ảnh: NTCC
Chỉ khi gia đình, nhà trường và xã hội được kết nối bằng cơ chế pháp lý rõ ràng, với trách nhiệm cụ thể và niềm tin đồng hành, giáo dục mới có thể tạo ra chuyển biến bền vững.
Thách thức trong bối cảnh mới
PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa, Chủ biên chương trình Hoạt động trải nghiệm và Hướng nghiệp, nhận định: Hiện nay, phần lớn thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên Việt Nam vẫn giữ được những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp: biết yêu thương, sẻ chia, có ý thức cộng đồng, sẵn sàng giúp đỡ nhau trong học tập và cuộc sống; tham gia nhiều hoạt động thiện nguyện, hiến máu, cứu trợ vùng lũ, bảo vệ môi trường và hỗ trợ vùng sâu vùng xa.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng, vẫn tồn tại không ít biểu hiện đạo đức đáng lo ngại. Bạo lực học đường vẫn xảy ra, cả trực tiếp lẫn trên mạng. Lối sống thực dụng, chạy theo vật chất và “ảo hóa” hình ảnh bản thân trên mạng xã hội gia tăng, nhiều bạn trẻ coi “được nổi tiếng” hay “được like” là thước đo giá trị bản thân.
Một bộ phận giới trẻ thiếu mục tiêu sống, thiếu niềm tin và trách nhiệm xã hội. Mạng xã hội đang trở thành “trường học ngầm” định hình hành vi và cảm xúc của thanh thiếu niên. Các trào lưu lệch chuẩn như “trend phản cảm”, “bắt chước người nổi tiếng nói tục, bạo hành”, “khoe thân - khoe của” hay “thử thách nguy hiểm” ngày càng phổ biến.
Nhìn nhận vấn đề này ở thực trạng bạo lực học đường, ThS Nguyễn Thị Minh Thúy - Hiệu trưởng Trường Nguyễn Siêu (Hà Nội), dẫn số liệu: theo thống kê của Bộ GD&ĐT, mỗi năm có khoảng 1.600 vụ xô xát trong và ngoài nhà trường, tương đương 5 vụ/ngày. Những con số này cho thấy bạo lực học đường không còn là hiện tượng đơn lẻ mà đã trở thành vấn đề mang tính hệ thống, đặt ra thách thức lớn cho công tác giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho học sinh.
Theo ThS Nguyễn Thị Minh Thúy, bạo lực học đường hiện nay biểu hiện dưới nhiều dạng, có thể quy về năm nhóm hành vi chính. Bạo lực thể chất bao gồm các hành vi như đánh, đẩy, xô xát, phá hoại tài sản hoặc bất kỳ hình thức sử dụng vũ lực nào gây tổn thương người khác. Bạo lực tinh thần thể hiện qua xúc phạm, lăng mạ, chế giễu, cô lập hoặc lan truyền tin đồn gây tổn hại đến danh dự và lòng tự trọng của học sinh. Bạo lực tình dục xuất hiện dưới dạng lời nói, cử chỉ, hình ảnh mang tính quấy rối, bình phẩm cơ thể hoặc các hành vi ép buộc, gạ gẫm.
Một dạng phổ biến khác là bắt nạt học đường - hành vi có chủ đích, lặp đi lặp lại, dựa trên sự chênh lệch quyền lực giữa người gây hại và nạn nhân. Trong bối cảnh số, bắt nạt trực tuyến ngày càng gia tăng, thể hiện qua việc sử dụng mạng xã hội, tin nhắn, hình ảnh, clip hoặc meme để công kích, bôi nhọ, đe dọa hoặc tẩy chay cá nhân hay nhóm học sinh.
“Hậu quả của bạo lực học đường kéo dài, nghiêm trọng hơn nhiều so với những tổn thương trước mắt. Trẻ có thể rơi vào trạng thái mất an toàn tâm lý, rối loạn lo âu, trầm cảm, thu mình, suy giảm kết quả học tập và mất niềm tin vào người lớn. Đối với giáo viên, bạo lực học đường tạo áp lực lớn trong quản lý lớp học và xử lý các khủng hoảng tâm lý. Đối với nhà trường, nó ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín, chất lượng môi trường học đường cũng như mối quan hệ với phụ huynh và cộng đồng”, Hiệu trưởng Trường Nguyễn Siêu nhận định.

Học sinh Trường Nguyễn Siêu trong giờ học kỹ năng sống.
Trăn trở trong phối hợp lực lượng giáo dục
Chúng ta đang sống trong thời kỳ mà cấu trúc gia đình thay đổi nhanh, nhiều cha mẹ phải đi làm xa; đô thị hóa, mạng xã hội và nền kinh tế số cũng làm biến đổi mạnh mẽ môi trường sống và giá trị xã hội. Những tác động này khiến công tác giáo dục, đặc biệt là giáo dục nhân cách và kỹ năng sống cho học sinh, gặp nhiều khó khăn hơn trước.
Nhấn mạnh thực trạng này, ông Vũ Mạnh Hiền - Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Hưng Yên, cho biết, mặt tích cực là nhận thức của cấp ủy, chính quyền, ngành Giáo dục và nhân dân về tầm quan trọng của phối hợp giáo dục đã được nâng lên rõ rệt. Tỉnh ủy, UBND tỉnh và sở GD&ĐT đều xác định đây là trụ cột phát triển giáo dục.
Nhiều phong trào lớn như “Trường học hạnh phúc”, “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Toàn dân chăm lo sự nghiệp giáo dục”, “Xây dựng gia đình văn hóa” cùng các mô hình “Công dân học tập”, “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Đơn vị học tập” và “Cộng đồng học tập” đã được triển khai sâu rộng, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ.
Tuy nhiên, ông Vũ Mạnh Hiền cũng chỉ ra nhiều khó khăn. Nhận thức về phối hợp giáo dục chưa đồng đều giữa các nhóm xã hội và địa phương. Nhiều phụ huynh thiếu điều kiện chăm lo giáo dục con cái, nên gửi trọn niềm tin vào thầy cô và nhà trường; kỹ năng giáo dục gia đình còn hạn chế.
Ở một số nơi, nhà trường chưa thật sự xem phụ huynh là đối tác, chưa tạo được cơ chế để họ tham gia vào quá trình giáo dục. Sự tham gia của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp còn thiên về hình thức, chưa gắn với nội dung giáo dục và nhu cầu thực tiễn của học sinh.
Thiếu một cơ chế phối hợp thống nhất trong toàn tỉnh, thiếu chuẩn dữ liệu và đánh giá định kỳ dẫn đến hoạt động phối hợp chưa liên thông, thiếu cơ sở để điều chỉnh. Bên cạnh đó, các nguy cơ từ môi trường số như bạo lực mạng, tin giả, nghiện Internet tác động mạnh đến học sinh, gây khó khăn cho gia đình và nhà trường trong việc quản lý và định hướng.
Nói về vấn đề này, PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa cho rằng, không phải lúc nào gia đình, nhà trường và xã hội cũng có cùng cách nhìn về “thế nào là giáo dục tốt”. Dù cùng hướng đến mục tiêu “con ngoan, trò giỏi”, nhưng nếu cách làm khác nhau hoặc mâu thuẫn nhau, mục tiêu này khó có thể đạt được.
Nhà trường mong phụ huynh dành nhiều thời gian hơn cho con cái, trong khi nhiều phụ huynh quá bận rộn, ít quan tâm đến học tập và diễn biến tâm lý của con. Giáo viên cũng thiếu thời gian để chăm sóc toàn diện học sinh và kết nối thường xuyên, đúng cách với phụ huynh.
Hơn nữa, nhiều giáo viên chưa có kỹ năng giao tiếp, hợp tác với phụ huynh, dẫn đến hiểu lầm, đổ lỗi hoặc phó mặc. Nhiều buổi họp phụ huynh vẫn mang tính một chiều, chủ yếu là thông báo hành chính, thiếu đối thoại và nâng cao hiểu biết cho phụ huynh.
“Giáo viên đã sử dụng công nghệ như công cụ tương tác với phụ huynh. Bên cạnh mặt tích cực, nhiều phụ huynh phản ánh rằng, các nhà trường, giáo viên đang sử dụng quá nhiều ứng dụng trên một học sinh và cung cấp nhiều thông tin vượt khả năng xử lý của họ. Điều này dẫn đến quá tải, khiến công nghệ không còn tiện ích mà trở thành phiền toái cho cả phụ huynh và giáo viên”, PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa chia sẻ.
Ngoài ra, thiếu cơ chế phối hợp rõ ràng giữa các lực lượng giáo dục và sự đồng bộ từ cấp quản lý là nguyên nhân cơ bản khiến mối quan hệ này chưa hiệu quả. Dù các văn bản pháp luật đều nhấn mạnh “xã hội hóa giáo dục”, việc phân công trách nhiệm, cơ chế giám sát và hỗ trợ nguồn lực vẫn còn mờ nhạt. Nhiều nơi chưa có bộ phận chuyên trách để điều phối, kết nối ba lực lượng này một cách hệ thống.

Học sinh Trường Nguyễn Siêu nghe nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế giảng nghĩa “hồn dân tộc” tại làng tranh Đông Hồ.
Cần thể chế hóa quan hệ phối hợp
Theo GS.TS Phạm Tất Dong – Cố vấn Hội Khuyến học Việt Nam, việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục học sinh, sinh viên không phải là khẩu hiệu mang tính động viên, mà là chương trình hành động cụ thể. Đây là những hoạt động được tổ chức với cam kết và giao kèo rõ ràng giữa các bên, bao gồm các gia đình, trường học, lực lượng xã hội cụ thể, diễn ra trên một địa bàn dân cư cụ thể.
Tuy nhiên, để sự phối hợp trở nên chặt chẽ, nhịp nhàng và thành chương trình dài hạn, cần có thể chế từ Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương. Nếu phối hợp được quy định thành một điều trong Luật Giáo dục, việc thực hiện sẽ có cơ sở pháp lý vững chắc nhất.
Đề xuất giải pháp tăng cường phối hợp, PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa cho rằng cần phát huy vai trò quản lý và định hướng của Bộ GD&ĐT, Hội Khuyến học và chính quyền địa phương; đồng thời xây dựng cơ chế quy định, khuyến khích trách nhiệm xã hội của các tổ chức, doanh nghiệp đối với giáo dục. Bà nhấn mạnh vai trò trung tâm kết nối của Hội Khuyến học và các trung tâm hỗ trợ giáo dục cộng đồng; nâng cao năng lực làm cha mẹ và tạo môi trường học tập suốt đời.
Đồng thời, cần định vị rõ nhà trường như chủ thể điều phối, lan tỏa các giá trị giáo dục. Việc ứng dụng công nghệ để tăng cường phối hợp giữa nhà trường và gia đình là cần thiết, nhưng phải được sử dụng hợp lý, coi công nghệ là công cụ hỗ trợ, tiện ích, không để trở thành áp lực hay gánh nặng cho giáo viên, phụ huynh và học sinh.
PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa nhấn mạnh sự cần thiết xây dựng một chương trình phối hợp ba bên (gia đình - nhà trường - xã hội) có hệ thống và thống nhất trên toàn quốc, gắn với mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh theo Chương trình GDPT 2018, đặc biệt là chương trình Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp. Cần có cơ chế, văn bản pháp lý rõ ràng, quy định cụ thể về phân công trách nhiệm giữa từng lực lượng giáo dục; cơ chế giám sát, đánh giá, phản hồi; đồng thời đảm bảo nguồn lực và kinh phí cho hoạt động phối hợp.
Bà đề xuất đưa tiêu chí “Mức độ phối hợp giáo dục giữa gia đình – nhà trường – xã hội” vào hệ thống đánh giá thi đua, khen thưởng. Bộ GD&ĐT cần xây dựng bộ chỉ số đánh giá định kỳ, bao gồm: tần suất và chất lượng phối hợp giữa các bên; hiệu quả lan tỏa các giá trị sống, đạo đức, kỹ năng xã hội của học sinh; mức độ tham gia và hài lòng của phụ huynh, học sinh; giảm tỷ lệ vi phạm đạo đức và tăng tỷ lệ tham gia các hoạt động xã hội tích cực.
Từ kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình xây dựng môi trường học đường an toàn, nhân văn tại Trường Nguyễn Siêu, Hiệu trưởng Nguyễn Thị Minh Thúy rút ra một số thông điệp cốt lõi, mang tính nền tảng cho công tác phòng chống bạo lực học đường.
Trước hết, cần nhận thức rằng bạo lực học đường không phải là câu chuyện riêng của một lớp hay một trường, mà là vấn đề mang tính đạo đức, pháp lý và văn hóa. Điều này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của ba lực lượng: gia đình, nhà trường và xã hội. Nếu chỉ một mình nhà trường nỗ lực, trong khi gia đình thiếu gắn kết hoặc xã hội thiếu chuẩn mực, truyền thông thiếu trách nhiệm, thì mọi cố gắng của thầy cô chỉ như giữ nước trong một chiếc rổ thủng, không thể tạo ra chuyển biến bền vững.
Một bài học quan trọng khác là phòng ngừa luôn hiệu quả và ít tổn thất hơn so với xử lý hậu quả. Việc phát triển kỷ luật tự thân, giáo dục cảm xúc – xã hội (SEL), các giá trị High Performance Learning (HPL) hay hệ thống Well-being chính là đầu tư vào “hệ miễn dịch bên trong” của học sinh, giúp các em chủ động tránh xa bạo lực và ứng xử có trách nhiệm.
Bên cạnh đó, vai trò của dữ liệu, quy trình và công nghệ ngày càng rõ ràng, khi các công cụ số cho phép nhà trường quản lý hành vi một cách minh bạch, kịp thời và nhất quán, giảm bớt sự phụ thuộc vào cảm tính. Minh bạch có chọn lọc, công khai số liệu, bài học và quy trình, đồng thời bảo mật tuyệt đối danh tính học sinh, cũng là chìa khóa để xây dựng niềm tin giữa nhà trường với phụ huynh và cộng đồng.
Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cần chuyển sang tư duy “đồng kiến tạo”, cùng chia sẻ mục tiêu, trách nhiệm và lợi ích trong quá trình giáo dục. Kết nối ba môi trường này không chỉ là phương thức phối hợp, mà là một liên minh chiến lược kiến tạo tương lai, nơi mỗi học sinh được phát triển trong tình yêu thương, mỗi thầy cô được cống hiến trong niềm hạnh phúc, và mỗi gia đình, mỗi cộng đồng đều thấy mình trong hành trình trồng người của đất nước. - NGND Nguyến Thị Hiền - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm (Hà Nội)












