Giải pháp hình thành văn hóa chất lượng bền vững trong giáo dục phổ thông
CBQL giáo dục góp ý quy định về bảo đảm chất lượng giáo dục, công nhận đạt chuẩn quốc gia với cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, GDTX.

Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội - Ảnh: VNU
Yêu cầu cao về tính trung thực, năng lực tự đánh giá
Bộ GD&ĐT công bố dự thảo Thông tư quy định về bảo đảm chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên.
Nhận định những thuận lợi với quy định trong dự thảo, ông Lê Văn Hòa, Giám đốc Trung tâm GDTX - Tin học, Ngoại ngữ tỉnh Quảng Trị nhắc đến đầu tiên là quy định mới cho phép gửi báo cáo và lưu trữ minh chứng qua môi trường điện tử.
Điều này giúp giảm bớt gánh nặng về hồ sơ giấy và tạo điều kiện cho việc quản lý dữ liệu khoa học hơn. Đây cũng là động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong nhà trường diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn.
Các mức đạt (từ Mức 1 đến Mức 4) được xây dựng theo nguyên tắc kế thừa, giúp cơ sở giáo dục dễ dàng xác lập lộ trình phát triển và mục tiêu phấn đấu cụ thể cho đơn vị. Lộ trình chuyển tiếp linh hoạt, Sở GD&ĐT có thể xem xét công nhận dựa trên báo cáo năm gần nhất trong giai đoạn chuyển tiếp 2 năm đầu, giúp quá trình xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia không bị gián đoạn.
Tuy nhiên, triển khai thực tế có thể gặp thách thức, đòi hỏi việc tự đánh giá của cơ sở giáo dục phải đảm bảo khách quan, không "tô hồng", “khai khống” thành tích vì đây là căn cứ thẩm định trực tiếp. “Có lẽ thách thức của áp lực về tính trung thực trong công tác tự đánh giá là yếu tố cần quan tâm nhất”, ông Lê Văn Hòa nhìn nhận.
Bên cạnh đó, Giám đốc Trung tâm GDTX - Tin học, Ngoại ngữ tỉnh Quảng Trị cho rằng, năng lực của Hội đồng tự đánh giá đòi hỏi đội ngũ cán bộ, giáo viên phải có kiến thức chuyên sâu về kiểm định để thu thập, phân tích minh chứng và xác định mức đạt của 25 tiêu chí một cách chính xác.
Thực tế ở các cơ sở giáo dục hiện nay, lực lượng làm công tác tự đánh giá còn nhiều hạn chế về năng lực đáp ứng yêu cầu của công tác tự đánh giá.
Ngoài ra còn khó thách thức duy trì chất lượng sau đạt chuẩn. Bằng công nhận có giá trị 7 năm, nhưng nhà trường phải thực hiện tự đánh giá hằng năm và có thể bị thu hồi bằng nếu không duy trì được mức độ đạt được của các tiêu chuẩn.
Hoàn thiện tiêu chí, tăng hiệu quả thẩm định
Góp ý hoàn thiện dự thảo, ông Lê Văn Hòa cho biết, dự thảo quy định cấp độ đạt chuẩn không vượt quá mức độ đáp ứng tiêu chuẩn cơ sở vật chất. Tuy nhiên, cần có hướng dẫn cụ thể về việc ưu tiên đầu tư cho các vùng khó khăn để tránh việc các trường ở vùng sâu, vùng xa dù có chất lượng giáo dục tốt nhưng vướng mắc vì tiêu chuẩn hạ tầng.
Tại Điều 5 của dự thảo Thông tư đưa ra 2 phương án. Phương án 1 (cho phép tỷ lệ % tiêu chí đạt mức cao) về bản chất sẽ có tính linh hoạt và nhân văn hơn so với phương án 2 (yêu cầu 100% tiêu chí đạt mức cao mới được công nhận mức đó). Điều này cực kỳ khó khăn trong thực tế, vì chỉ cần một tiêu chí nhỏ (như "huy động nguồn lực") không đạt là kéo toàn bộ kết quả của nhà trường xuống, dễ dẫn đến bệnh thành tích hoặc làm giả minh chứng.
Từ đó, ông Lê Văn Hòa cho rằng, nên lựa chọn và chốt duy nhất phương án 1, vì nó phản ánh đúng triết lý "phát triển tổng thể" thay vì phụ thuộc vào một sai sót nhỏ lẻ. Mặt khác sự tồn tại cùng lúc 2 phương án cho thấy sự chưa thống nhất về triết lý đánh giá.
Tại Điều 20 của dự thảo Thông tư đưa ra Quy trình thẩm định "từ xa" và nguy cơ thiếu khách quan là rất hiện hữu. Dự thảo nhấn mạnh việc thẩm định qua báo cáo và minh chứng trực tuyến. Dù tiết kiệm thời gian, nhưng nếu không có quy định bắt buộc về tỷ lệ khảo sát thực tế (Điều 20 khoản 3đ chỉ ghi "trường hợp cần thiết"), Hội đồng thẩm định rất khó đánh giá được "văn hóa chất lượng" thực sự hoặc tính xác thực của các thiết bị, cơ sở vật chất qua ảnh chụp/video.
Thành phần Hội đồng thẩm định bao gồm Hiệu trưởng các cơ sở giáo dục cùng cấp trong Hội đồng thẩm định có thể dẫn đến tình trạng nể nang nhau giữa các đơn vị trong cùng một địa bàn.
Ông Lê Văn Hòa cũng đề cập đến áp lực về thời gian và khối lượng công việc (Điều 8, Điều 20). Yêu cầu rà soát, cập nhật kết quả tự đánh giá và báo cáo hằng năm tạo ra gánh nặng hành chính rất lớn cho các cơ sở giáo dục. Nếu không có phần mềm hỗ trợ thông minh, giáo viên và cán bộ quản lý sẽ dành quá nhiều thời gian cho "giấy tờ" thay vì tập trung cải tiến chất lượng dạy học.
Thời gian thẩm định quy định mỗi buổi họp thẩm định không quá 3 bộ hồ sơ là một nỗ lực đảm bảo chất lượng, nhưng với số lượng trường học rất nhiều tại các thành phố lớn, Sở GD&ĐT sẽ đối mặt với tình trạng quá tải nghiêm trọng khi đến chu kỳ công nhận trường đạt chuẩn quốc gia.
Tại Điều 17 Dự thảo Thông tư quy định áp dụng theo tiêu chuẩn của cấp học cao nhất. Theo ông Lê Văn Hòa, điều này có thể không công bằng và không sát thực tế. Ví dụ, một trường liên cấp Tiểu học - THCS - THPT sẽ phải áp dụng tiêu chuẩn THPT cho cả khối tiểu học. Trong khi đó, đặc thù tâm sinh lý, phương pháp giáo dục và quản trị của bậc tiểu học khác hoàn toàn bậc THPT. Việc "cào bằng" theo cấp học cao nhất có thể làm mờ nhạt các yêu cầu đặc thù của các cấp học thấp hơn trong cùng một cơ sở.
Đề xuất giải pháp để chuẩn đi vào thực chất, tránh “ngủ quên trên danh hiệu”
Ông Lê Văn Hòa kiến nghị, Bộ GD&ĐT cần sớm ban hành sổ tay hướng dẫn công tác tự đánh giá với các minh chứng gợi ý cụ thể cho từng mức độ để tạo sự thống nhất trên toàn quốc, đồng thời các cơ sở giáo dục không bị lúng túng trong việc "giải mã" các tiêu chí.
Bộ GD&ĐT đồng thời cần cung cấp một nền tảng phần mềm dùng chung toàn quốc để các cơ sở giáo dục nhập liệu minh chứng và tự động hóa việc tính toán tỷ lệ đạt các mức, giúp giảm sai sót trong công tác tự đánh giá và thực hiện các báo cáo.
Dự thảo đã cho phép Hội đồng tự đánh giá đề nghị thuê dịch vụ tư vấn. Cần khuyến khích điều này để đảm bảo cái nhìn khách quan, tránh việc tự đánh giá mang tính chủ quan, nội bộ.
Đối với đơn vị trường có nhiều cấp học, việc áp dụng tiêu chuẩn theo cấp học cao nhất nhưng cơ sở vật chất theo từng cấp học là hợp lý, nhưng cần hướng dẫn rõ cách thức thành lập Hội đồng tự đánh giá để đại diện đủ các cấp học trong trường.
Ngoài ra, cần có quy định để không tạo khoảng trống trong giám sát. Mặc dù dự thảo Thông tư có yêu cầu tự đánh giá hằng năm, nhưng cơ chế để Sở GD&ĐT giám sát tính trung thực của các báo cáo này trong suốt chu kỳ công nhận đạt chuẩn quốc gia là chưa rõ ràng. Điều này dễ dẫn đến tình trạng "ngủ quên trên chiến thắng" sau khi đã có Bằng công nhận đạt chuẩn quốc gia.











