Giải pháp khoa học phục hồi rừng ngập mặn biển Tây
Ứng dụng khoa học công nghệ khôi phục rừng ngập mặn, bảo vệ bờ biển Tây trước xói lở và biến đổi khí hậu là nhu cầu cấp bách.

Biển Tây - Ảnh: T.L
Dải ven biển Tây Nam Bộ, kéo dài từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên khoảng 350km, được xem là khu vực đặc thù của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Theo nghiên cứu công bố trên Tạp chí Khí tượng Thủy văn năm 2021, rừng ngập mặn (RNM) tại đây không chỉ đóng vai trò “lá chắn xanh” bảo vệ bờ biển mà còn là nền tảng sinh thái – kinh tế quan trọng cho toàn vùng.
Tuy nhiên, những năm gần đây, quá trình xói lở gia tăng, bờ biển nhiều nơi bị “biển tiến”, dải rừng phòng hộ suy thoái nghiêm trọng. Phục hồi và phát triển RNM ven biển Tây vì thế trở thành một bài toán khoa học – công nghệ cấp thiết, đòi hỏi cách tiếp cận hệ thống, dựa trên nguyên lý “thuận thiên”.

Rừng ngập mặn phía Tây là tài nguyên - Ảnh: T.L
Cơ chế hình thành và vai trò đặc thù
Khác với bờ biển Đông, biển Tây thuộc vịnh Thái Lan có chế độ nhật triều không đều, biên độ nhỏ (dưới 1m), thềm lục địa thoải và nông. RNM tại đây hình thành trên nền bãi bồi có độ dốc rất thấp (
Theo nhóm tác giả Đoàn Thanh Vũ - Trường đại học Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh và cộng sự, RNM ven biển Tây có vai trò đặc biệt trong giảm sóng, hạn chế xói lở. Khi dải rừng bị mất, bãi bùn nhanh chóng bị bào mòn do sóng và dòng chảy. Thực tế tại đoạn từ sông Đốc (Cà Mau) đến rạch Tiểu Dừa (U Minh) dài khoảng 55km từng ghi nhận tốc độ xói lở trung bình 30m/năm giai đoạn 2003–2013, mất trên 600ha rừng phòng hộ.

Đê bảo vệ biển Tây Ảnh: T.L
Nguyên nhân suy thoái: Tác động tổng hợp
Các chuyên gia chỉ ra ba nhóm nguyên nhân chính:
Thứ nhất, suy giảm nguồn bùn cát từ thượng nguồn sông Mekong. Trước đây, sông Mekong cung cấp 150–200 triệu tấn phù sa mỗi năm cho hạ lưu. Tuy nhiên, hệ thống đập thủy điện thượng nguồn làm lượng bùn cát lơ lửng có thể suy giảm đến 60%, thậm chí 96% nếu toàn bộ đập dự kiến hoàn thành. Thiếu phù sa đồng nghĩa với thiếu vật liệu bồi tụ, bãi triều không được tái tạo.
Thứ hai, biến đổi khí hậu và lún sụt đất. Nước biển dâng làm RNM bị ngập sâu và lâu hơn, thay đổi điều kiện sinh thái. Khi cộng hưởng với lún sụt nền đất yếu đặc trưng của ĐBSCL, độ sâu nước tăng lên, đường bờ lùi dần vào đất liền.
Thứ ba, tác động của con người. Việc chuyển đổi đất rừng sang nuôi tôm, xây dựng đê biển, cống thủy lợi, khai thác nước ngầm… làm gián đoạn dòng chảy, ngăn phù sa và dưỡng chất ra vùng bãi trước rừng. Một số công trình cứng còn làm thay đổi phản xạ sóng, gia tăng xói lở cục bộ.
TS. Đoàn Thanh Vũ nhận định: “RNM không chỉ cần nước mặn mà cần được pha loãng định kỳ bằng nước ngọt giàu phù sa. Khi hệ thống đê, cống ngăn dòng tự nhiên, hệ sinh thái sẽ suy kiệt”.

Sạt lở đe dọa biển Tây - Ảnh: Internet
Đánh giá các giải pháp công trình
Nghiên cứu đã hệ thống hóa các giải pháp bảo vệ bờ đang áp dụng tại ĐBSCL. Đê biển đất từng phát huy hiệu quả nhờ có RNM che chắn. Nhưng khi rừng mất, tuyến đê trực diện sóng, nguy cơ hư hỏng tăng cao.
Kè mái nghiêng (đá đổ, bê tông) có tác dụng tức thời, song chi phí lớn và có thể gây xói lở lân cận do sóng phản xạ. Trên nền đất yếu, nguy cơ lún, chuyển vị cao.
Đê phá sóng đá đổ truyền thống bền vững nhưng rất tốn kém, ít phù hợp với nền địa chất mềm yếu biển Tây.
Đáng chú ý là nhóm giải pháp “hỗn hợp” như đê cọc tre – bè cành cây, đê cọc bê tông ly tâm kết hợp đá đổ. Trong đó, mô hình cọc tre chi phí thấp, dùng vật liệu địa phương, phù hợp nơi sóng nhỏ (Hs < 0,9m). Cọc bê tông ly tâm có tuổi thọ cao hơn, áp dụng được ở vùng sâu trên 2m.
Ngoài ra, các giải pháp mới như ống geotextile chứa cát, đê khối rỗng bê tông đúc sẵn đang được thử nghiệm. Tuy nhiên, do còn thiếu thông số thiết kế tối ưu, một số mô hình ghi nhận tỷ lệ hư hỏng đáng kể.
Ưu điểm của hướng tiếp cận “thuận thiên”
Các nhà khoa học thống nhất rằng phục hồi RNM cần dựa trên nguyên lý : xây dựng cùng thiên nhiên.
Ưu điểm nổi bật của cách tiếp cận này là:
– Tăng khả năng tự bồi tụ tự nhiên, giảm phụ thuộc công trình cứng.
– Chi phí dài hạn thấp hơn, ít tác động tiêu cực môi trường.
– Tăng cường đa dạng sinh học và sinh kế cộng đồng (mô hình tôm – rừng).
– Hạn chế sóng phản xạ, duy trì trao đổi bùn cát dọc bờ.
PGS - TS. Trịnh Công Dân - Viện Kỹ thuật Biển cho rằng: “Giải pháp tối ưu không phải là bê tông hóa toàn bộ đường bờ, mà là tạo điều kiện để bãi triều tự tái cân bằng động lực bùn cát, sau đó rừng sẽ tự tái sinh”.
Tính khả thi và điều kiện triển khai
Về tính khả thi, nghiên cứu khẳng định phục hồi RNM ven biển Tây hoàn toàn có cơ sở khoa học nếu đảm bảo:
Lựa chọn vị trí có xu thế bồi tụ hoặc có thể tạo bồi bằng rào chắn thẩm thấu lớn.
Hạn chế công trình cứng trước và trong rừng; nếu có, phải đảm bảo tính thấm cao.
Tái lập điều kiện thủy văn – phù sa tự nhiên thay vì trồng cây đại trà
Trong nhiều trường hợp, tái tạo điều kiện để rừng tự tái sinh hiệu quả hơn trồng mới.
Tuy nhiên, thách thức vẫn rất lớn: thiếu hụt phù sa từ thượng nguồn; nguồn vốn đầu tư hạn chế; xung đột sử dụng đất; và sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan.

Bảo vệ biển Tây đòi hỏi đầu tư lớn - Ảnh: T.L
Hướng đi dài hạn
Nhóm tác giả kiến nghị cần tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu để tối ưu một số giải pháp có tính khả thi cao, đặc biệt là mô hình công trình mềm kết hợp gây bồi sinh thái. Đồng thời, cần tích hợp quản lý tổng hợp vùng bờ, phối hợp liên ngành giữa thủy lợi, lâm nghiệp, tài nguyên môi trường và địa phương.
Phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển Tây không chỉ là nhiệm vụ bảo vệ môi trường, mà là chiến lược bảo vệ an ninh sinh thái toàn vùng ĐBSCL. Khi thiên nhiên được trao cơ hội tự cân bằng, “tường xanh” ven biển sẽ trở thành giải pháp bền vững, hài hòa giữa khoa học, kinh tế và môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt.











