Giải pháp phục hồi nguồn nước suy thoái, ô nhiễm các sông Nhuệ- Đáy, Bắc Hưng Hải
Một trong những mục tiêu đặt ra trong dự thảo Hồ sơ Đề án thí điểm phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ- Đáy, Ngũ Huyện Khê đó là quản lý, kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm; đồng thời phấn đấu đến năm 2035 điều hòa, phân phối, phục hồi nguồn nước mặt với các giải pháp ưu tiên tự chảy…

một đoạn sông Nhuệ trên địa bàn xã Đại Thanh. Ảnh: Quang Thể
Tại cuộc họp về kế hoạch phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ- Đáy, Ngũ Huyện Khê diễn ra ngày 4/9 do Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì, các ý kiến nhấn mạnh tình trạng ô nhiễm tại ba dòng sông, nguồn nước này đã kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân, hoạt động sản xuất và đặc biệt là chất lượng phát triển đô thị. Các địa phương liên quan như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình đều có các đô thị lớn, do đó tình trạng ô nhiễm các dòng sông tác động đáng kể đến vấn đề môi trường và quá trình phát triển đô thị.
KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ CÁC NGUỒN GÂY Ô NHIỄM NƯỚC MẶT TRÊN CÁC SÔNG
Trước thực trạng trên, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, cho biết thời gian qua, Bộ đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương, cơ quan, đơn vị và các chuyên gia đầu ngành xây dựng dự thảo Hồ sơ Đề án thí điểm phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ- Đáy, Ngũ Huyện Khê.
Dự thảo Đề án xác định 3 mục tiêu cụ thể.
Thứ nhất, phấn đấu đến năm 2035 điều hòa, phân phối, phục hồi, phát triển nguồn nước mặt với các giải pháp ưu tiên tự chảy từ sông Hồng vào Bắc Hưng Hải với lưu lượng đến 120 m3/s, từ sông Đuống vào Ngũ Huyện Khê với lưu lượng đến 28 m3/s, từ sông Đà vào Nhuệ- Đáy với lưu lượng đến 200 m3/s. Việc này nhằm duy trì dòng chảy thường xuyên, liên tục cho các sông; nâng cao năng lực lấy nước, tiêu úng, giảm thiểu ngập lụt; tiết kiệm tối đa năng lượng và chi phí vận hành.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp về kế hoạch phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ- Đáy, Ngũ Huyện Khê. Ảnh: Gia Huy
Thứ hai, quản lý, kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm nước mặt trên các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ- Đáy, Ngũ Huyện Khê; triển khai đồng bộ các giải pháp thu gom, xử lý nước thải theo quy định trước khi xả thải vào nguồn nước, qua đó cải thiện chất lượng nước mặt, phục hồi các hệ sinh thái và phát triển cảnh quan ven sông.
Đến năm 2035, phấn đấu 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn có hạ tầng thu gom và xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; 70% nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom và xử lý; trên 45% nước thải sinh hoạt nông thôn được xử lý bằng các biện pháp tập trung hoặc phân tán phù hợp.
Thứ ba, thí điểm áp dụng các cơ chế, chính sách để huy động tối đa nguồn lực xã hội, đặc biệt là sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân trong triển khai các giải pháp cải tạo, phục hồi nguồn nước, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp phát biểu tại cuộc họp. Ảnh: Gia Huy
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các giải pháp phục hồi nguồn nước được đề xuất mang tính chiến lược, có tính chất thay đổi trạng thái, giải quyết tổng thể, toàn diện các vấn đề liên quan đến tài nguyên nước trên toàn lưu vực, bảo đảm bền vững.
Trên cơ sở đó, dự thảo kế hoạch đề xuất 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cần triển khai để đạt các mục tiêu đề ra. Mục tiêu quan trọng là thu gom, xử lý các nguồn thải gây ô nhiễm nước mặt nhằm từng bước giảm thiểu tải lượng các chất ô nhiễm đổ vào hệ thống sông, cải thiện chất lượng nguồn nước, phục hồi và duy trì hệ sinh thái thủy sinh.
Bên cạnh đó, điều hòa, phân phối nguồn nước nhằm duy trì dòng chảy thường xuyên, liên tục cho các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy, Ngũ Huyện Khê. Dự thảo Đề án cũng đặt nhiệm vụ đầu tư, nâng cấp, hiện đại hóa 51 điểm quan trắc, giám sát nguồn nước hiện có; đồng thời bổ sung đầu tư xây dựng mới 8 điểm quan trắc, giám sát nguồn nước; tái cấu trúc không gian phát triển, kết hợp tiêu thoát nước, giảm ngập úng, tạo cảnh quan đô thị, hành lang xanh, không gian công cộng, phát triển kinh tế ven sông, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đề xuất các cơ chế, chính sách ưu tiên thu hút sự tham gia của doanh nghiệp theo phương thức đối tác công tư đối với các nhiệm vụ đầu tư công trình phục hồi, điều tiết đa mục tiêu; cải tạo, nâng cấp, hiện đại hóa các công trình điều tiết, trạm bơm; cải tạo, nạo vét sông, kênh trục; xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải.
Về phía các địa phương, đại diện UBND Thành phố Hà Nội, cho biết đang triển khai chủ trương đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường sông Cầu Bây, một phần của hệ thống Bắc Hưng Hải. HĐND Thành phố đã thống nhất chủ trương đầu tư với tổng mức đầu tư 11.000 tỷ đồng theo hình thức PPP, loại hợp đồng BT. Hà Nội phấn đấu khởi công dự án trong tháng 9/2026.
Đối với sông Nhuệ, HĐND TP. Hà Nội cũng đã phê duyệt chủ trương đầu tư cải tạo, xử lý ô nhiễm môi trường và chỉnh trang cảnh quan. Dự án có tổng mức đầu tư dự kiến 75.000 tỷ đồng. Thành phố đang lập dự án đầu tư và quyết tâm khởi công vào khoảng tháng 11/2026.
Còn với Hải Phòng- địa phương chịu tác động lớn từ hệ thống Bắc Hưng Hải, nhất là khu vực cuối nguồn cho biết thời gian qua đã triển khai dự án ODA thu gom, xử lý nước thải trên địa bàn thành phố cũ với kinh phí khoảng 1.600 tỷ đồng…
CẦN KẾ HOẠCH PHỤC HỒI MANG TÍNH TỔNG THỂ, PHỐI HỢP ĐỒNG BỘ GIỮA CÁC ĐỊA PHƯƠNG
Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, nguồn nước lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình nói chung và các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ- Đáy, Ngũ Huyện Khê nói riêng có vai trò lớn trong bảo đảm an ninh nguồn nước, phục vụ sinh hoạt, sản xuất; đồng thời là nhân tố quyết định sức tải về môi trường, không gian phát triển của toàn vùng đồng bằng sông Hồng và Thủ đô Hà Nội.
Tuy nhiên, dưới tác động của biến đổi khí hậu, áp lực phát triển kinh tế và công tác quản lý, các hệ thống sông này đã vượt ngưỡng chịu tải, đứng trước nguy cơ lớn về môi trường và không còn khả năng tự làm sạch. Thực tế này đòi hỏi phải có một kế hoạch phục hồi mang tính tổng thể.
Phó Thủ tướng đánh giá, thời gian qua các địa phương đã từng bước triển khai một số nhiệm vụ, nhưng còn tình trạng thực hiện riêng lẻ, thiếu sự phối hợp đồng bộ nên hiệu quả chưa cao. Vì vậy, việc xây dựng dự án cải tạo, phục hồi nguồn nước suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm tại các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ- Đáy và Ngũ Huyện Khê là hết sức cần thiết, góp phần cải thiện môi trường và phục vụ phát triển kinh tế bền vững.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp.
Đây là dự án có phạm vi rất rộng, liên quan đến 5 tỉnh, thành phố, do đó cần có cơ chế điều phối, phối hợp đồng bộ giữa các địa phương, đồng thời phân công nhiệm vụ rõ ràng, xác định cụ thể địa phương nào thực hiện nhiệm vụ nào. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần duy trì cơ chế phối hợp, điều phối định kỳ, tổ chức giao ban với các địa phương.
Cũng theo Phó Thủ tướng, trong điều kiện nguồn lực có hạn, cần xác định các dự án ưu tiên có thể triển khai ngay, kiểm soát được và bảo đảm tính khả thi; đồng thời sắp xếp thứ tự ưu tiên, xác định rõ việc gì làm trước, việc gì làm sau. Mục tiêu là sau khi đầu tư, các công trình phải được vận hành hiệu quả ngay, từng bước tạo chuyển biến về chất lượng nguồn nước.
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong quá trình xây dựng dự án làm rõ 3 vấn đề lớn. Thứ nhất, phải xây dựng danh mục công trình theo thứ tự ưu tiên, xác định rõ những công trình cần triển khai trước để tạo hiệu quả, đồng thời bảo đảm tính khả thi trong từng giai đoạn.
Thứ hai, phải xác định cụ thể nguồn lực thực hiện, trong đó làm rõ Nhà nước đầu tư bao nhiêu, xã hội hóa bao nhiêu, nguồn vốn xã hội hóa được huy động ở đâu và theo hình thức nào. Các địa phương phải chủ động xác định khả năng cân đối nguồn lực và phương án triển khai phù hợp.
Thứ ba, phải làm rõ cơ chế vận hành khi các công trình hoàn thành, bảo đảm sự đồng bộ trong quá trình khai thác. Đặc biệt, hệ thống thu gom và xử lý nước thải phải được triển khai đồng bộ, hiệu quả.
Đối với các công trình điều tiết nước, cần bảo đảm tính khả thi, gắn với việc khơi thông dòng chảy và tạo lập cảnh quan. Hệ thống quan trắc phải được đầu tư hiện đại, đồng bộ, ứng dụng công nghệ; đồng thời cần rút kinh nghiệm từ quá trình triển khai thời gian qua để bảo đảm hiệu quả đầu tư…
