Giảm gánh nặng bệnh tim mạch là yêu cầu cấp bách
Giáo sư Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Phân hội Tim mạch học Can thiệp Việt Nam cho biết, những tiến bộ được trao đổi tại hội nghị đều hướng đến một yêu cầu cấp bách: Giảm gánh nặng bệnh tim mạch. Những con số ấy nhắc chúng ta về trách nhiệm trong dự phòng và điều trị.
Ngày 7/11, Hội nghị khoa học Tim mạch Can thiệp toàn quốc lần thứ 12 (VICC 2026) đã khai mạc tại Hải Phòng. Hội nghị do Phân hội Tim mạch học Can thiệp Việt Nam (VICS) thuộc Hội Tim mạch học Việt Nam (VNHA) tổ chức, quy tụ gần 1.500 đại biểu trong nước và quốc tế.
Thông tin tại hội nghị cho thấy, tim mạch vẫn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới và tại Việt Nam. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 2022 trên thế giới có khoảng 19,8 triệu người tử vong do bệnh tim mạch, chiếm khoảng 32% tổng số ca tử vong toàn cầu; khoảng 85% số tử vong tim mạch liên quan đến nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Hơn 3/4 số ca tử vong tim mạch xảy ra tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình.

Giáo sư Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Phân hội Tim mạch học Can thiệp Việt Nam phát biểu tại hội nghị.
Tại Việt Nam, số liệu của WHO công bố cho thấy, năm 2023, bệnh tim mạch chiếm khoảng 31% tổng số ca tử vong, tương đương khoảng 200.000 người, cho thấy gánh nặng rất lớn đối với gia đình, hệ thống y tế và xã hội. Già hóa dân số cùng tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, hút thuốc lá và ít vận động tiếp tục đặt ra nhu cầu cấp thiết về dự phòng, phát hiện sớm và điều trị hiệu quả.
Tại hội nghị, Giáo sư Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Phân hội Tim mạch học Can thiệp Việt Nam cho biết, những tiến bộ được trao đổi tại hội nghị đều hướng đến một yêu cầu cấp bách: Giảm gánh nặng bệnh tim mạch. Những con số ấy nhắc chúng ta về trách nhiệm trong dự phòng và điều trị.
Theo Giáo sư Phạm Mạnh Hùng, từ ca nong động mạch vành đầu tiên của Andreas Grüntzig năm 1977, tim mạch can thiệp thế giới đã đi qua gần nửa thế kỷ. Từ một quả bóng nong, chúng ta có stent phủ thuốc, hình ảnh trong lòng mạch, đánh giá sinh lý mạch vành và những công cụ xử lý tổn thương phức tạp. Tái thông kịp thời đã trở thành nền tảng cứu sống người bệnh nhồi máu cơ tim cấp.


Các nhà khoa học báo cáo tham luận khoa học tại hội nghị.
Bước tiến còn vươn xa hơn, đó là từ tái thông mạch vành đến thay, sửa van tim qua ống thông. Kể từ ca TAVI đầu tiên năm 2002, một công bố năm 2025 ghi nhận gần 3 triệu người bệnh tại hơn 80 quốc gia đã được điều trị bằng kỹ thuật này. Sửa van hai lá, van ba lá, thay van động mạch phổi và bít tiểu nhĩ trái tiếp tục mở rộng cơ hội điều trị cho những người bệnh phù hợp.
Ở Việt Nam, từ những ca can thiệp mạch vành đầu tiên giữa thập niên 1990, chúng ta đã có khoảng 30 năm phát triển. Theo ước tính, cả nước hiện có trên 140 trung tâm và khoảng 500 bác sĩ tim mạch can thiệp, thực hiện khoảng 70.000 ca can thiệp mạch vành mỗi năm; khoảng 20 trung tâm đã triển khai TAVI. Từ nong van hai lá, điều trị tim bẩm sinh đến can thiệp mạch vành phức tạp và bệnh van tim, nhiều kỹ thuật tiên tiến đã được thực hiện ngay trong nước. Một số đồng nghiệp Việt Nam đã trở thành chuyên gia hướng dẫn, tham gia chuyển giao kỹ thuật quốc tế.

Hội nghị quy tụ 1.500 đại biểu là các chuyên gia về tim mạch.
Cũng theo GS Phạm Mạnh Hùng, hiện mô hình bệnh tật đang thay đổi. Bên cạnh bệnh mạch vành vẫn rất phổ biến, già hóa dân số làm gia tăng nhu cầu điều trị bệnh tim cấu trúc, đặc biệt bệnh van tim do thoái hóa. Người bệnh cao tuổi, nhiều bệnh đòi hỏi quyết định điều trị toàn diện và phối hợp Heart Team. Chúng ta cần tính đến cả hành trình điều trị suốt đời của người bệnh.
Công nghệ cũng thay đổi nhanh chóng. Hình ảnh ba chiều, các dụng cụ can thiệp thế hệ mới và trí tuệ nhân tạo đang hỗ trợ phân tích giải phẫu, lập kế hoạch và cá thể hóa điều trị. Y học chính xác hướng đến giải pháp phù hợp từng người bệnh, với mục tiêu an toàn, hiệu quả và bền vững.
“Tại Việt Nam, chi phí thiết bị, khả năng chi trả và chênh lệch nguồn lực vẫn là những rào cản, đòi hỏi chúng ta liên tục học tập và hỗ trợ nhau phát triển”, Giáo sư Phạm Mạnh Hùng bày tỏ.
Một “đặc sản” của hội nghị là 6 phiên truyền hình trực tiếp ca can thiệp (live case), tổng thời lượng 7,5 giờ, kết hợp 6 bài giảng lớn. Các điểm cầu gồm Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp tại Hải Phòng; Viện Tim mạch – Bệnh viện 19-8 Bộ Công an tại Hà Nội; Bệnh viện Cựu chiến binh Đài Bắc, Đài Loan (Trung Quốc); Trung tâm Tim mạch Quốc gia Singapore. Nội dung tập trung vào can thiệp động mạch vành phức tạp và thay van động mạch chủ qua ống thông. Các đại biểu dự hội nghị còn được xem Chương trình “Thử thách đội nhóm tim mạch” gồm 9 phiên, 18 ca bệnh từ 13 bệnh viện.
“Góc chuyên gia” có 8 phiên với 35 bài báo cáo và 31 chuyên gia, tạo không gian hỏi đáp trực tiếp về những vấn đề khó trong thực hành.
“Phòng can thiệp bên bờ biển” (Cathlab on the Beach) mang đến 40 ca lâm sàng từ 36 đơn vị trong 8 phiên, với cách trao đổi gần gũi, tập trung vào bài học có thể áp dụng tại phòng can thiệp. Những tình huống về tổn thương vôi hóa, tắc mạn tính, sốc tim và xử trí biến chứng giúp lan tỏa kinh nghiệm giữa các trung tâm…
Đào tạo thực hành là trọng tâm xuyên suốt hội nghị. Các khu thực hành “Làng đào tạo” (Training Village), “Phòng thực hành dành cho bác sĩ đang được đào tạo chuyên sâu” (Fellow Lab) và hoạt động hướng dẫn trực tiếp giúp học viên tiếp cận dụng cụ, rèn luyện thao tác và thảo luận quy trình với chuyên gia. Cách đào tạo “cầm tay chỉ việc” hướng tới chuyển kiến thức thành năng lực thực hành, đặc biệt với bác sĩ trẻ và nhân lực tại các trung tâm đang phát triển.
Ngoài ra, hội nghị còn có Góc “Thế hệ kế cận” (NextGen) dành cho bác sĩ trẻ, nhà nghiên cứu trẻ và điều dưỡng có 10 phiên với 44 bài báo cáo và các hoạt động “Ngọn lửa trẻ VICS 2026” tạo thêm cơ hội rèn luyện kiến thức, xử lý tình huống và giao lưu chuyên môn.
Nguồn CAND: https://cand.vn/giam-ganh-nang-benh-tim-mach-la-yeu-cau-cap-bach-post827073.html


