Giảm môn thi vào lớp 10, cần dựa trên dữ liệu thay vì cảm tính

Nhiều ý kiến cho rằng, việc giảm từ 3 xuống còn 2 môn thi vào lớp 10 có thể khiến kỳ thi nhẹ đi nhưng chưa chắc áp lực tuyển sinh đã giảm. Nếu muốn giảm áp lực thi cử, cần tìm đúng nguồn tạo ra áp lực chứ không chỉ ở việc giảm số môn thi.

Không nên mặc định ít môn thi là giảm áp lực

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đang lấy ý kiến đối với dự thảo Thông tư ban hành Quy chế tiếp nhận học sinh đầu cấp. Theo dự thảo, tuyển sinh vào lớp 10 vẫn có thể thực hiện bằng xét tuyển, thi tuyển hoặc kết hợp thi tuyển với xét tuyển; nếu áp dụng thi tuyển, số môn thi được đề xuất còn 2 môn Toán và Ngữ văn, thay vì 3 môn theo quy định hiện hành. Thông tin này hiện đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ đông đảo phụ huynh, học sinh trên cả nước.

Chia sẻ với PV Báo CAND về vấn đề này, ThS Hoàng Tăng Đức, chuyên gia khảo thí, Trường Đại học Vinh cho rằng, trước hết cần xác nhận đây mới là phương án trong dự thảo được Bộ GD&ĐT đưa ra lấy ý kiến, chưa phải quy định chính thức. Nếu phương án mới được thông qua, thay đổi dễ thấy nhất là kỳ thi sẽ gọn hơn. Học sinh bớt một môn thi, việc tổ chức thi cũng giảm được một phần khối lượng công việc và chi phí. Tuy nhiên, dưới góc độ khảo thí, vấn đề quan trọng hơn là với chỉ 2 bài thi, chúng ta có thu được đủ thông tin cần thiết để phục vụ đúng mục đích tuyển sinh hay không.

ThS Hoàng Tăng Đức, chuyên gia khảo thí, Trường Đại học Vinh.

ThS Hoàng Tăng Đức, chuyên gia khảo thí, Trường Đại học Vinh.

Cũng theo ThS Hoàng Tăng Đức, để đánh giá một phương án tuyển sinh cần dựa trên dữ liệu thực tế, trong đó có khả năng phân hóa của đề, độ tin cậy của kết quả, mức độ phù hợp giữa nội dung được đánh giá với mục tiêu tuyển sinh và tác động của phương án đó tới việc dạy và học ở THCS. Đặc biệt, cần thận trọng với cách nói “giảm môn thi là giảm áp lực”. Giảm từ 3 bài thi xuống 2 chắc chắn làm giảm số bài mà học sinh phải dự thi nhưng áp lực tuyển sinh còn phụ thuộc vào số lượng học sinh, chỉ tiêu, mức độ cạnh tranh vào từng trường, cách ra đề và kỳ vọng của gia đình. Nếu số chỗ học ở những trường có nhu cầu cao vẫn hạn chế thì áp lực cạnh tranh không mất đi, mà có thể tập trung nhiều hơn vào hai môn còn lại. Khi chỉ còn Toán và Ngữ văn, giá trị của từng điểm số ở hai môn này cũng có thể trở nên lớn hơn.

Thực tế, khả năng phân loại không đơn giản phụ thuộc vào số lượng môn thi. Hai bài thi được thiết kế tốt có thể cung cấp thông tin phân loại tốt hơn ba bài thi được thiết kế kém. Ngược lại, nếu đề thi chủ yếu kiểm tra ghi nhớ, câu hỏi quá dễ hoặc quá khó, độ phân hóa thấp thì tổ chức nhiều môn cũng chưa chắc tuyển chọn tốt. Bên cạnh khả năng phân loại, cần phân biệt với phạm vi năng lực được đánh giá. Hai bài thi có thể tạo ra mức độ phân hóa tốt về điểm số nhưng không đồng nghĩa với việc hai bài thi đại diện đầy đủ cho toàn bộ năng lực học tập của một học sinh. “Với những trường có mức cạnh tranh rất cao, yêu cầu về độ chính xác của kết quả càng lớn. Trong khoa học đo lường, một quyết định có hệ quả lớn đối với người học thì bằng chứng dùng cho quyết định đó càng cần được kiểm chứng cẩn trọng về độ giá trị, độ tin cậy và tính công bằng”, ThS Hoàng Tăng Đức phân tích.

Xây dựng cơ chế tuyển sinh đảm bảo công bằng và ổn định

Theo ThS Hoàng Tăng Đức, nếu chỉ thay đổi số môn mà những khâu còn lại giữ nguyên thì mới chỉ thay đổi phần “nhìn thấy” của kỳ thi. Điều cần đầu tư trước hết là chất lượng đề thi, quy trình xây dựng đề, tính ổn định và minh bạch. Quan trọng hơn, cần nhìn vào quan hệ cung – cầu chỗ học. Ở những nơi số học sinh muốn vào một số trường lớn hơn nhiều so với khả năng tiếp nhận thì cạnh tranh vẫn tồn tại, dù thi 2 môn, 3 môn hay chuyển sang một hình thức tuyển sinh khác. Do đó, giảm áp lực tuyển sinh không thể chỉ là câu chuyện kỹ thuật của một kỳ thi mà còn liên quan tới quy hoạch mạng lưới trường lớp, chất lượng tương đối giữa các trường và khả năng đáp ứng nhu cầu học tập của người dân.

“Trước mọi phương án cải cách cần trả lời ba câu hỏi rất rõ: Chúng ta cần đánh giá điều gì? Kết quả đó được dùng để quyết định việc gì? Và bằng chứng nào cho thấy cách đánh giá ấy đủ tin cậy và công bằng cho quyết định đó?”, chuyên gia khảo thí đặt vấn đề. Theo ông, mục tiêu cuối cùng không phải là làm cho kỳ thi ít môn hơn, hay thậm chí không còn kỳ thi, mà là xây dựng một cơ chế tuyển sinh công bằng, đáng tin cậy, ít tạo ra tác động tiêu cực tới việc dạy và học hơn và bảo vệ tốt hơn quyền lợi chính đáng của học sinh.

Kỳ thi vào lớp 10 nhiều năm nay luôn có mức độ cạnh tranh cao, nhất là tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh.

Kỳ thi vào lớp 10 nhiều năm nay luôn có mức độ cạnh tranh cao, nhất là tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh.

Ở một góc nhìn khác, ThS Đinh Đức Hiền, Giám đốc điều hành hệ thống Trường Tiểu học, THCS và THPT FPT Bắc Giang cho rằng, câu hỏi quan trọng không chỉ là “thi 2 môn hay 3 môn?” mà phải là: “Kỳ thi này đang phục vụ mục tiêu giáo dục nào và sẽ khiến học sinh học như thế nào?”. Theo ThS Đinh Đức Hiền, thi cử suy cho cùng chỉ là công cụ. Điều cần bảo vệ không phải là số môn thi mà là mục tiêu giáo dục phía sau kỳ thi. Trong khi đó, áp lực lớn nhất của kỳ thi vào lớp 10 không nằm ở việc thi 2 hay 3 môn mà nằm ở mức độ cạnh tranh giữa số người muốn vào và số chỗ học. Nếu số học sinh cạnh tranh vẫn như cũ, giảm một môn chủ yếu làm giảm khối lượng ôn tập chứ chưa chắc giảm được áp lực cạnh tranh. Thậm chí, khi chỉ còn Toán và Ngữ văn, giá trị của từng 0,25 điểm ở hai môn này có thể tăng lên. Nhu cầu học thêm cũng có thể không giảm mà dịch chuyển mạnh hơn về hai môn này. Vì vậy, nếu muốn giảm áp lực thi cử, cần tìm đúng nguồn tạo ra áp lực chứ không chỉ giảm số môn thi.

Một vấn đề khác được ThS Đinh Đức Hiền lưu ý là kỳ thi không chỉ đo việc học mà còn định hướng việc học. Về nguyên tắc phải là “Học gì thi nấy”, nhưng thực tế nhiều năm qua cho thấy một quy luật rất mạnh: “Thi gì, học nấy”. Môn nào quyết định cơ hội vào lớp 10 thì học sinh dành nhiều thời gian hơn, phụ huynh đầu tư nhiều hơn, nhà trường quan tâm nhiều hơn và thị trường luyện thi cũng tập trung vào đó. Vì vậy, câu hỏi không chỉ là Toán và Văn có đủ để phân loại học sinh hay không mà còn là nếu nhiều năm chỉ thi Toán và Văn, học sinh THCS sẽ thay đổi cách học như thế nào. Đây mới là tác động dài hạn mà chính sách cần tính đến.

Cũng theo ThS Đinh Đức Hiền, chương trình Giáo dục phổ thông 2018 thiết kế THCS là giai đoạn giáo dục cơ bản, còn THPT ngày càng tăng tính lựa chọn và định hướng nghề nghiệp. Muốn học sinh 15 tuổi lựa chọn đúng thì trước hết các em phải được học đủ rộng để biết mình mạnh ở đâu, thích gì và phù hợp với lĩnh vực nào. Nếu từ lớp 8, lớp 9, các môn Khoa học tự nhiên, Ngoại ngữ, Tin học, Công nghệ và các môn Khoa học xã hội dần được xem là “không thi”, sẽ khó kỳ vọng học sinh vẫn đầu tư và khám phá năng lực của mình một cách đầy đủ.

Hướng nghiệp không bắt đầu khi học sinh chọn môn ở lớp 10. Hướng nghiệp bắt đầu từ việc tạo đủ trải nghiệm để các em hiểu chính mình. Theo tôi, không nhất thiết phải giữ một môn thứ ba thật nặng, cũng không nhất thiết mỗi năm chọn một môn rồi để cả xã hội chờ xem “năm nay thi môn gì”. Tuy nhiên, cũng không nên vì muốn giảm áp lực mà mặc nhiên cho rằng ít môn thi nhất sẽ là phương án tốt nhất. Một phương án thi đảm bảo hài hòa các mục tiêu có thể nghiên cứu là Toán, Ngữ văn kết hợp với một bài đánh giá nền tảng tổng hợp ở mức cơ bản. Trong đó, Toán và Ngữ văn vẫn đảm nhiệm vai trò chính trong phân loại; bài tổng hợp nhằm xác nhận rằng sau 9 năm giáo dục phổ thông, học sinh vẫn có nền tảng tối thiểu về khoa học, xã hội, ngoại ngữ và công nghệ.

ThS Đinh Đức Hiền, Giám đốc điều hành hệ thống Trường Tiểu học, THCS và THPT FPT Bắc Giang

Huyền Thanh

Nguồn CAND: https://cand.vn/giam-mon-thi-vao-lop-10-can-dua-tren-du-lieu-thay-vi-cam-tinh-post823887.html