Giảm phát thải: Hướng đi mới để nâng cao giá trị nông sản Việt

Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh nhờ mở rộng diện tích, tăng sản lượng và đẩy mạnh xuất khẩu, nông sản Việt Nam đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới. Ở đó, chất lượng sản phẩm không chỉ được đo bằng năng suất, mẫu mã hay giá bán, mà còn bằng khả năng sản xuất xanh, minh bạch dữ liệu và giảm phát thải trong toàn bộ chuỗi giá trị.

Sản xuất giảm phát thải đang trở thành hướng đi quan trọng để nâng giá trị và sức cạnh tranh cho nông sản Việt Nam.

Sản xuất giảm phát thải đang trở thành hướng đi quan trọng để nâng giá trị và sức cạnh tranh cho nông sản Việt Nam.

Trong nhiều năm qua, nông nghiệp Việt Nam đạt được những bước tiến lớn khi nhiều ngành hàng như lúa gạo, cà phê, rau quả, hồ tiêu, điều, thủy sản liên tục mở rộng thị trường và nâng cao vị thế trên bản đồ xuất khẩu thế giới. Tuy nhiên, khi dư địa tăng trưởng theo chiều rộng dần thu hẹp, yêu cầu đặt ra với ngành nông nghiệp không còn chỉ là “sản xuất nhiều hơn”, mà phải chuyển sang “sản xuất hiệu quả hơn, sạch hơn và có trách nhiệm hơn”.

Đây cũng là tinh thần được nhấn mạnh tại Hội nghị Ban Chỉ đạo lần thứ nhất triển khai Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ngày 18/5 tại Hà Nội. Đề án được xác định là một bước đi quan trọng nhằm đưa ngành trồng trọt vào quỹ đạo phát triển phát thải thấp, đồng thời nâng sức cạnh tranh cho nông sản Việt Nam trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng coi trọng tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và minh bạch phát thải.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung chủ trì Hội nghị Ban Chỉ đạo lần thứ nhất triển khai Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050”.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung chủ trì Hội nghị Ban Chỉ đạo lần thứ nhất triển khai Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2050”.

Giảm phát thải - điều kiện mới để nâng sức cạnh tranh

Trước đây, lợi thế của nhiều nông sản Việt Nam chủ yếu đến từ chi phí sản xuất thấp, sản lượng lớn và khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu thị trường. Nhưng trong bối cảnh tiêu dùng xanh gia tăng, các tiêu chuẩn về môi trường, phát thải carbon, sử dụng vật tư nông nghiệp và trách nhiệm xã hội ngày càng được lồng ghép sâu vào thương mại quốc tế.

Điều này khiến giảm phát thải không còn là câu chuyện riêng của bảo vệ môi trường. Với nhiều ngành hàng, đây đang trở thành một phần của năng lực cạnh tranh. Một sản phẩm nông nghiệp muốn đi vào phân khúc cao cấp, giữ được chỗ đứng ở các thị trường khó tính và nâng giá trị gia tăng sẽ phải chứng minh được quy trình sản xuất bền vững hơn.

Theo định hướng của ngành nông nghiệp, mục tiêu giảm phát thải trong trồng trọt không tách rời lợi ích kinh tế của người sản xuất. Các giải pháp kỹ thuật như giảm lượng giống gieo sạ, sử dụng nước tưới hợp lý, quản lý phân bón hiệu quả, xử lý rơm rạ, tái sử dụng phụ phẩm, tăng phân hữu cơ và áp dụng mô hình nông nghiệp tuần hoàn đều hướng tới mục tiêu chung là giảm chi phí đầu vào, nâng chất lượng sản phẩm và cải thiện thu nhập cho nông dân.

Nói cách khác, giảm phát thải chỉ có thể bền vững nếu người nông dân nhìn thấy lợi ích trực tiếp trên đồng ruộng, trong chi phí sản xuất và trong giá trị sản phẩm bán ra thị trường. Đây là điểm then chốt, bởi mọi yêu cầu kỹ thuật dù đúng về mặt môi trường nhưng nếu không gắn với thu nhập, chi phí và đầu ra sản phẩm thì rất khó đi vào thực tế sản xuất.

Đối với doanh nghiệp và hợp tác xã, sản xuất phát thải thấp cũng không chỉ là yêu cầu tuân thủ. Đây có thể trở thành lợi thế để xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, nâng uy tín thương hiệu và tiếp cận tốt hơn với các thị trường có tiêu chuẩn cao. Khi người tiêu dùng, nhà nhập khẩu và các hệ thống phân phối ngày càng quan tâm đến dấu chân carbon, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm môi trường, những vùng sản xuất có dữ liệu minh bạch sẽ có nhiều cơ hội hơn trong cạnh tranh.

Các mô hình canh tác lúa giảm phát thải giúp giảm chi phí đầu vào, tiết kiệm nước và hạn chế phát thải khí nhà kính.

Các mô hình canh tác lúa giảm phát thải giúp giảm chi phí đầu vào, tiết kiệm nước và hạn chế phát thải khí nhà kính.

Sản xuất xanh cần đi cùng đo lường minh bạch

Trong lộ trình triển khai, cây lúa tiếp tục được xem là ngành hàng ưu tiên. Đây là cây trồng có quy mô sản xuất lớn, liên quan trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu hộ nông dân và cũng là lĩnh vực có nhiều tiềm năng giảm phát thải, đặc biệt là phát thải khí methane từ canh tác lúa nước.

Các mô hình tưới ngập khô xen kẽ, giảm lượng giống gieo sạ, quản lý phân bón hợp lý, thu gom và xử lý rơm rạ sau thu hoạch đang được thúc đẩy gắn với Đề án 1 triệu héc ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long. Khi được tổ chức đồng bộ, những giải pháp này không chỉ giúp giảm phát thải khí nhà kính, mà còn góp phần giảm chi phí giống, phân bón, nước tưới và công lao động.

Điều đáng chú ý là giảm phát thải trong canh tác lúa không phải câu chuyện quá xa lạ với sản xuất thực tế. Nhiều biện pháp đã được khuyến cáo trong thời gian qua như “1 phải 5 giảm”, “3 giảm 3 tăng”, tưới tiết kiệm, sử dụng giống xác nhận, bón phân cân đối, quản lý dịch hại tổng hợp... Khi được chuẩn hóa và gắn với hệ thống đo đếm, những thực hành này có thể trở thành nền tảng để hình thành vùng lúa chất lượng cao, phát thải thấp, có khả năng chứng minh tác động môi trường một cách cụ thể hơn.

Bên cạnh lúa gạo, ngành nông nghiệp cũng định hướng mở rộng sản xuất phát thải thấp sang các cây trồng chủ lực khác như cà phê, sầu riêng và ngô. Với cà phê, các mô hình được khuyến khích là tưới tiết kiệm, sử dụng phân hữu cơ, tái sử dụng phụ phẩm, phục hồi sức khỏe đất và phát triển kinh tế tuần hoàn tại những vùng sản xuất trọng điểm như Tây Nguyên và Sơn La.

Đối với cây ăn quả, các ngành hàng như sầu riêng, thanh long, xoài, bưởi và chanh dây sẽ cần đáp ứng ngày càng chặt chẽ hơn các yêu cầu về mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, quản lý nước tưới, sử dụng vật tư đầu vào và xử lý phụ phẩm. Đây là nhóm ngành hàng có giá trị xuất khẩu cao, song cũng chịu sức ép lớn về tiêu chuẩn chất lượng, an toàn và bền vững từ các thị trường nhập khẩu.

Một trong những nội dung cốt lõi của sản xuất giảm phát thải là phải đo được, báo cáo được và thẩm định được kết quả giảm phát thải. Vì vậy, hệ thống MRV - đo đếm, báo cáo và thẩm định phát thải khí nhà kính trong trồng trọt được xem là “hạ tầng kỹ thuật” quan trọng để hình thành các vùng sản xuất phát thải thấp.

Theo kế hoạch năm 2026, ngành nông nghiệp sẽ hoàn thiện quy trình canh tác giảm phát thải và hệ thống MRV đối với cây lúa trên phạm vi toàn quốc, đồng thời triển khai xây dựng quy trình cho ngô, cà phê và sầu riêng. Quy trình kiểm kê khí nhà kính, đo đạc, báo cáo và kết nối hệ thống kiểm kê trực tuyến cũng được thực hiện song song.

Thứ trưởng Hoàng Trung chỉ rõ, nếu không có hệ thống đo đếm chuẩn hóa, rất khó xác nhận sản phẩm “phát thải thấp”, càng khó tiếp cận các thị trường yêu cầu minh bạch dữ liệu. Do đó, đến năm 2030, ngành nông nghiệp sẽ xây dựng hệ thống MRV đồng bộ từ trung ương tới địa phương, chuẩn hóa phương pháp đo đếm phát thải cho từng nhóm cây trồng, đồng thời thí điểm các nền tảng số trong quản lý dữ liệu phát thải.

Bên cạnh khung kỹ thuật, đề án cũng được triển khai thông qua các mô hình cụ thể tại địa phương thay vì chỉ dừng ở định hướng chính sách. Thống kê của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho thấy, hiện 22 tỉnh, thành phố đã ban hành kế hoạch hành động triển khai đề án.

Tại Quảng Trị, mô hình lúa giảm phát thải đã được triển khai tại 13 xã với tổng diện tích hơn 6.000 ha. Hưng Yên dự kiến triển khai 3.000 ha lúa áp dụng AWD và lắp thiết bị đo đếm phát thải trong năm 2026. Trong khi Huế đang xây dựng mô hình “3 giảm 3 tăng”, quản lý nước và xử lý rơm rạ theo hướng phát thải thấp.

Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, các mô hình này không chỉ giúp giảm phát thải methane trong canh tác lúa mà còn giảm lượng giống, phân bón, nước tưới và chi phí sản xuất.

Dữ liệu phát thải sẽ là nền tảng để các địa phương, doanh nghiệp và hợp tác xã tổ chức lại vùng nguyên liệu theo hướng minh bạch hơn. Khi sản xuất được gắn với dữ liệu, chuỗi giá trị nông sản có thêm căn cứ để chứng minh chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu và xây dựng niềm tin với người tiêu dùng.

Tuy nhiên, để hệ thống đo đếm phát huy hiệu quả, dữ liệu không thể chỉ nằm trên giấy tờ hoặc trong báo cáo kỹ thuật. Cần có sự tham gia thực chất của nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan quản lý địa phương. Việc ghi chép nhật ký sản xuất, quản lý vật tư đầu vào, theo dõi nước tưới, xử lý phụ phẩm, xác nhận quy trình canh tác cần được đơn giản hóa, số hóa và gắn với lợi ích cụ thể của người tham gia chuỗi.

Nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn và sản xuất phát thải thấp có nhiều điểm tương đồng trong sử dụng tài nguyên hiệu quả và cải thiện sức khỏe đất.

Nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn và sản xuất phát thải thấp có nhiều điểm tương đồng trong sử dụng tài nguyên hiệu quả và cải thiện sức khỏe đất.

Cơ hội cho nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn và thương hiệu nông sản Việt

Đến nay, nhiều địa phương đã bắt đầu xây dựng kế hoạch và mô hình triển khai sản xuất trồng trọt giảm phát thải. Một số mô hình lúa giảm phát thải đã được thực hiện thông qua áp dụng tưới ngập khô xen kẽ, quản lý nước, xử lý rơm rạ và lắp đặt thiết bị đo đếm phát thải. Đây là những bước thử nghiệm quan trọng để kiểm chứng hiệu quả kỹ thuật, chi phí áp dụng và khả năng nhân rộng trong điều kiện sản xuất thực tế.

Tuy nhiên, để đề án đi vào thực chất, vai trò của địa phương, hợp tác xã và doanh nghiệp là rất quan trọng. Chính địa phương là nơi lựa chọn vùng sản xuất phù hợp; hợp tác xã là cầu nối tổ chức nông dân thực hành đúng quy trình; còn doanh nghiệp giữ vai trò liên kết tiêu thụ, đầu tư vùng nguyên liệu và đưa sản phẩm phát thải thấp ra thị trường.

Đặc biệt, với đặc thù sản xuất nông nghiệp Việt Nam còn phân tán, quy mô nông hộ nhỏ lẻ, quy trình giảm phát thải cần được thiết kế đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng và không làm tăng thêm gánh nặng cho người nông dân. Khi nông dân thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, sản phẩm mới có cơ sở để được xác nhận, dán nhãn và tham gia vào những chuỗi giá trị cao hơn.

Đối với nông nghiệp hữu cơ, xu hướng giảm phát thải mở ra một dư địa phát triển quan trọng. Việc tăng sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh, tái chế phụ phẩm, cải thiện sức khỏe đất, giảm phụ thuộc vào vật tư hóa học và tối ưu tài nguyên nước đều là những nội dung có sự tương đồng lớn với nguyên tắc của sản xuất hữu cơ và nông nghiệp sinh thái.

Nếu được kết nối tốt, các mô hình hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn và phát thải thấp có thể bổ trợ cho nhau, tạo nên những vùng sản xuất vừa an toàn, vừa có trách nhiệm với môi trường, vừa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Đây cũng là cơ hội để các hợp tác xã, doanh nghiệp và địa phương xây dựng thương hiệu nông sản theo hướng “xanh hơn”, minh bạch hơn và có giá trị gia tăng cao hơn.

Trong giai đoạn tới, việc xây dựng nhãn hiệu “nông sản phát thải thấp Việt Nam” cho các ngành hàng chủ lực như lúa gạo, cà phê, rau quả và chè được kỳ vọng sẽ tạo thêm công cụ nhận diện cho nông sản Việt. Tuy nhiên, nhãn hiệu chỉ có giá trị khi đi kèm tiêu chí rõ ràng, dữ liệu đáng tin cậy và quy trình sản xuất được kiểm chứng trên thực tế.

Về lâu dài, sản xuất phát thải thấp không nên được nhìn nhận như một phong trào ngắn hạn, mà cần trở thành một phần trong quá trình tái cơ cấu ngành trồng trọt. Khi sản xuất xanh được gắn với thị trường, tín dụng, bảo hiểm, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu, nông dân mới có thêm động lực chuyển đổi, doanh nghiệp mới có cơ sở đầu tư vùng nguyên liệu, còn địa phương mới có căn cứ để tổ chức lại sản xuất.

Từ câu chuyện tăng trưởng bằng sản lượng, nông nghiệp Việt Nam đang bước sang giai đoạn tăng trưởng bằng chất lượng, dữ liệu và trách nhiệm môi trường. Giảm phát thải vì vậy không chỉ là một nhiệm vụ kỹ thuật, mà còn là hướng đi chiến lược để nông sản Việt nâng giá trị, giữ thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng xanh toàn cầu.

PT

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/giam-phat-thai-huong-di-moi-de-nang-cao-gia-tri-nong-san-viet-14442.html