Giáo dục trong kỷ nguyên số: Từ tiếp nhận công nghệ sang đồng sáng tạo
Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số đang làm thay đổi sâu sắc cách thức học tập, làm việc và sáng tạo. Trước những cơ hội lớn lẫn thách thức về an toàn dữ liệu, liêm chính học thuật và nguy cơ phụ thuộc công nghệ, ngành giáo dục xác định đổi mới phương thức dạy học, quản trị và tăng cường hợp tác quốc tế thực chất là chìa khóa phát triển nguồn nhân lực bền vững.

Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số năm 2026. Ảnh: N.LY
4 ưu tiên trong chuyển đổi số giáo dục
Trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, chuyển đổi số giáo dục không chỉ đơn thuần là đưa công nghệ vào lớp học hay đo lường tần suất sử dụng. Giá trị thực sự của công nghệ nằm ở việc giúp người học tiến bộ hơn, người thầy thực hiện tốt hơn vai trò của mình, nhà trường vận hành hiệu quả hơn và cơ hội học tập được mở rộng công bằng.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn đã nhấn mạnh bốn ưu tiên cốt lõi của giáo dục Việt Nam trong ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số:
Thứ nhất, xây dựng nền tảng dữ liệu và học liệu số thống nhất, an toàn, kết nối và sử dụng chung. Biến dữ liệu thành nguồn lực phục vụ người học, nhà giáo và quản trị giáo dục, tiến tới phát triển nền tảng giáo dục thông minh quốc gia.
Thứ hai, đổi mới dạy và học, phát triển năng lực làm chủ công nghệ. Mục tiêu không phải để AI suy nghĩ thay con người, mà để giúp con người học tốt hơn, sáng tạo hơn. Năng lực số và năng lực AI cần trở thành một phần trong phát triển nghề nghiệp thường xuyên của nhà giáo.
Thứ ba, đổi mới quản trị, thúc đẩy ứng dụng AI an toàn, minh bạch và có trách nhiệm. Hiểu rõ cả khả năng lẫn giới hạn của công nghệ; bảo đảm quyền riêng tư, bản quyền, liêm chính học thuật và quyền lợi của người học.
Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế. Coi hợp tác toàn cầu là giải pháp cấp bách và nguồn lực trực tiếp, bởi không một hệ thống giáo dục đơn lẻ nào có thể tự giải quyết đầy đủ bài toán công nghệ, dữ liệu, tiêu chuẩn đạo đức hay khoảng cách số.
Theo Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn, người học cần được rèn luyện năng lực tự học, tư duy độc lập, phản biện và khả năng làm việc cùng AI. Trong khi đó, người thầy chuyển dịch từ vai trò truyền thụ tri thức thuần túy sang người thiết kế hoạt động học tập, hướng dẫn, truyền cảm hứng và định hướng giá trị.

Hợp tác quốc tế không chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận tri thức hay công nghệ từ bên ngoài, mà các bên sẽ cùng nghiên cứu, cùng phát triển. Ảnh: N.LY
Từ tiếp nhận công nghệ đến đồng nghiên cứu, đồng sáng tạo
Hành lang thể chế tại Việt Nam đang tạo động lực mạnh mẽ cho đổi mới sáng tạo và hội nhập giáo dục. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 59-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW cùng hệ thống các luật, văn bản dưới luật hiện có đã trở thành một chỉnh thể thống nhất trong thể chế về đổi mới sáng tạo trong giáo dục tại Việt Nam. Từ đó, hình thành một lộ trình, định hướng: giáo dục đào tạo con người; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo tạo động lực nội sinh và hội nhập quốc tế kết nối tri thức, công nghệ, nguồn lực toàn cầu.
Theo ông Trần Nam Tú - Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo, khi cơ chế mở đường cho thương mại hóa kết quả nghiên cứu, Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp cần chuyển từ các phương thức truyền thống sang mô hình mới như: đồng nghiên cứu, đồng sáng tạo, đồng sở hữu kết quả; xây dựng phòng thí nghiệm và trung tâm xuất sắc hợp tác quốc tế; tham gia xây dựng quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế và phát huy mạng lưới trí thức Việt Nam ở nước ngoài.
PGS,TS. Nguyễn Thu Thủy - Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo - nhấn mạnh, Việt Nam mong muốn tiếp cận tri thức, công nghệ và những mô hình tốt của thế giới, nhưng hợp tác không chỉ dừng ở việc tiếp nhận những giải pháp đã có. Từ những kết nối này, các bên có thể cùng nghiên cứu, cùng phát triển và cùng thử nghiệm những giải pháp phù hợp hơn với điều kiện thực tế của Việt Nam. Qua hợp tác, Việt Nam có thể cùng các đối tác tham gia chia sẻ, kiến tạo tri thức và những giải pháp giáo dục cho tương lai.
Quá trình này tập trung vào các bài toán thiết thực như: phát triển dữ liệu giáo dục an toàn, ứng dụng AI trong giảng dạy và quản trị, bồi dưỡng năng lực số cho nhà giáo và xây dựng các chuẩn mực AI có trách nhiệm.

Năng lực số và năng lực AI cần trở thành một phần trong phát triển nghề nghiệp thường xuyên của nhà giáo. Ảnh: N.LY
Tăng cường khả năng ứng dụng và liêm chính học thuật
Thực tế cho thấy, sự bùng nổ của AI buộc các cơ sở giáo dục phải chủ động thiết kế lại chương trình đào tạo và phương thức đánh giá. Theo PGS,TS. Nguyễn Tuấn Đức - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hoa Sen, nhà trường coi AI là trợ lý đắc lực trong học tập, giảng dạy và vận hành.
Trường Đại học Hoa Sen đã phân loại điều chỉnh chương trình môn học: với các môn cơ bản, việc dùng AI bị hạn chế trong kỳ thi để tập trung phát triển tư duy độc lập và năng lực giải quyết bài toán của sinh viên; còn với các môn nâng cao, công nghệ AI được tích hợp trực tiếp để hỗ trợ học tập.
"AI vẫn có thể đưa ra những thông tin hoặc kết quả sai. Vì vậy, vấn đề cốt lõi là năng lực ra quyết định của sinh viên. Nhà trường và giảng viên phải trang bị cho người học kiến thức để nhận diện, kiểm chứng thông tin, làm việc hiệu quả với AI và biết cách hướng dẫn công cụ này giải quyết vấn đề" - PGS,TS. Nguyễn Tuấn Đức cho biết.
Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế, GS. Rick Bennett - Phó Hiệu trưởng kiêm Phó Chủ tịch Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) - cho rằng, cần đảm bảo sự phù hợp của chương trình đào tạo khi công nghệ thay đổi nhanh chóng.
Để giải bài toán này, mô hình “Degree Plus” - kết hợp bằng đại học với chứng nhận năng lực nghề nghiệp thực tế là một giải pháp hữu hiệu với các hướng trọng tâm: Doanh nghiệp tham gia thiết kế chương trình, nhà tuyển dụng trực tiếp cùng nhà trường xây dựng chương trình đào tạo thực chất; Chứng nhận năng lực thực hành - xây dựng hồ sơ năng lực đi kèm bảng điểm học thuật để chứng minh những gì sinh viên thực sự có thể làm; tích hợp trải nghiệm quốc tế và coi đây là yêu cầu thiết yếu để nâng cao khả năng cạnh tranh nghề nghiệp của người học.
Công nghệ và AI đang mở ra những cánh cửa mới cho giáo dục. Bằng việc kiên trì thực hiện bốn ưu tiên chiến lược, đẩy mạnh hợp tác đồng sáng tạo và chủ động đổi mới mô hình đào tạo đại học, giáo dục Việt Nam đang từng bước hình thành hệ sinh thái học tập thông minh, an toàn và lấy phát triển con người làm trung tâm./.
