Giới thiệu một cách tiếp cận về phát triển tài năng

Để có thêm các cách nhìn nhận về vấn đề phát triển tài năng, bài viết dưới đây cung cấp một cách tiếp cận của các nhà Khoa học giáo dục.

Ảnh minh họa/INT.

Ảnh minh họa/INT.

Phát hiện và đào tạo tài năng, bồi dưỡng nhân tài là vấn đề được quan tâm xuyên suốt trong lịch sử khoa học giáo dục. Tuy vậy, từ góc độ khoa học, các tiêu chí để nhận diện, đánh giá tài năng còn khá phân tán. Cách thức phát hiện và phát triển tài năng lại càng khó định hình. Điều đó có thể là do tài năng có nhiều mặt biểu hiện, nhiều chiều đánh giá: từ chuyên môn đến xã hội, từ đạo đức đến lịch sử. Đồng thời, quá trình hình thành và phát triển tài năng cũng là quá trình chịu tác động của nhiều yếu tố.

Năng khiếu và tài năng

Ảnh minh họa/INT.

Ảnh minh họa/INT.

“Năng khiếu” và “Tài năng” là hai khái niệm có liên hệ mật thiết nhưng không đồng nhất. Theo Gagné (2016), năng khiếu là tiềm năng tự nhiên, trong khi tài năng là kết quả của quá trình giáo dục, rèn luyện. Theo lý thuyết đa trí tuệ của Gardner (1999), có nhiều loại trí tuệ có cơ sở là các yếu tố sinh học bẩm sinh (năng khiếu), bao gồm: trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ logic-toán học, trí tuệ không gian, trí tuệ vận động, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ giao tiếp, trí tuệ nội tâm, và trí tuệ thiên nhiên. Một cá nhân có năng khiếu sẽ không trở thành người tài năng nếu không có quá trình giáo dục và môi trường phù hợp. Sternberg (2020) và Renzulli (2021)mở rộng quan điểm này bằng cách nhấn mạnh rằng: Tài năng không chỉ phụ thuộc vào trí tuệ bẩm sinh (năng khiếu), mà còn vào sự nỗ lực, sáng tạo và điều kiện giáo dục.

So sánh giữa năng khiếu và tài năng:

Giáo dục năng khiếu

Giáo dục năng khiếu là cầu nối giữa phát hiện tiềm năng và đào tạo nhân tài, giúp chuyển hóa năng khiếu thành năng lực thực tiễn, vượt trội. Học sinh có năng khiếu thường có một số biểu hiện nổi bật như: Khả năng nhận thức vượt trội; Tính sáng tạo cao; Động lực học tập mạnh mẽ; Ý chí và cường độ cảm xúc cao; Khả năng thích ứng nhanh.

Biểu hiện năng khiếu ở các lứa tuổi khác nhau:

Để biến năng khiếu (tiềm năng bẩm sinh) thành tài năng thực sự, cần có một quá trình giáo dục bài bản, hệ thống và phù hợp. Gagné (2016) chỉ ra rằng năng khiếu nếu không được phát hiện kịp thời và bồi dưỡng đúng cách sẽ không thể phát triển đến mức tối đa. Quá trình giáo dục năng khiếu đóng vai trò như một "chất xúc tác", tạo điều kiện để năng khiếu trở thành tài năng có giá trị cho xã hội.

Ảnh minh họa/INT.

Ảnh minh họa/INT.

Giáo dục năng khiếu – giai đoạn đầu của đào tạo tài năng và chuyên gia

Quá trình phát triển năng khiếu – tài năng có thể chia thành 5 giai đoạn chính, theo mô hình DMGT (Differentiated Model of Giftedness and Talent) của Gagné (2008, 2016): Phát hiện năng khiếu Bồi dưỡng Củng cố và phát triển Chuyển hóa thành tài năng thực tiễn Đóng góp cho xã hội. Mô hình này nhấn mạnh vai trò trung tâm của giáo dục trong việc tạo ra môi trường, công cụ và cơ hội giúp cá nhân có năng khiếu đạt được thành tựu cao nhất.

Mô hình DMGT của Gagné (2016) về 5 giai đoạn phát triển năng khiếu – tài năng:

Mô hình giáo dục năng khiếu cấp THCS có vai trò đặc trưng: phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu học sinh lứa tuổi THCS (11 - 15 tuổi), tương ứng với các giai đoạn đầu của lộ trình DMGT đào tạo tài năng và chuyên gia (Gagné, 2016). Theo đó, mô hình lớp chuyên, trường chuyên cấp THPT tương ứng với giai đoạn tiếp theo, gắn với vai trò: củng cố và phát triển tài năng.

Tùy thuộc vào các điều kiện thực tiễn và bối cảnh xã hội mà việc tổ chức phát hiện và phát triển tài năng có thể được tổ chức khác nhau. Nhưng các yếu tố quan trọng cần được chú ý và duy trì: Đào tạo tài năng là quá trình lâu dài, cần tạo điều kiện tối đa để học sinh tham gia các hoạt động mà trẻ có năng khiếu để bộc lộ năng khiếu, từ đó củng cố, thúc đẩy sự phát triển lên các tầm cao mới.

Nguyễn Đức Sơn, Trần Bá Trình (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội).

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/gioi-thieu-mot-cach-tiep-can-ve-phat-trien-tai-nang-post770760.html