Giữ 'gen đô thị' trước áp lực phát triển

Mỗi lần chỉnh trang một công trình quen thuộc không chỉ là thay đổi diện mạo, mà còn tác động đến ký ức đô thị. Câu chuyện bảo tồn di sản Sài Gòn vì thế không chỉ thuộc về quá khứ, mà còn là lựa chọn cho tương lai.

TS. Nguyễn Thị Hậu - Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP.HCM, chuyên gia hàng đầu về khảo cổ học và bảo tồn di sản, cho biết bảo tồn di sản không chỉ là “giữ hay không giữ”, mà còn liên quan đến các yếu tố sâu hơn như cấu trúc xã hội, kinh tế... Chính điều này khiến việc bảo tồn trở nên phức tạp, đôi khi dẫn đến những kết quả không như mong muốn(*).

Di sản đô thị: Không chỉ là công trình, mà là ký ức sống

Những ngày gần đây, câu chuyện chợ Bến Thành, Hồ Con Rùa, Nhà chú Hỏa… được chỉnh trang đã thu hút sự chú ý lớn của dư luận. Qua đó đặt ra câu hỏi: đâu là ranh giới giữa bảo tồn và cải tạo, giữa gìn giữ ký ức và nhu cầu phát triển? Và quan trọng hơn, ai là người có quyền quyết định diện mạo của những không gian đã trở thành một phần ký ức chung của thành phố? Để giải quyết những câu hỏi đó, việc hiểu đúng về di sản là rất cần thiết.

TS. Nguyễn Thị Hậu và nhiếp ảnh gia Minh Hòa (trái) đồng tình ký ức là một phần di sản tinh thần của đô thị. Ảnh: OmegaPlus

TS. Nguyễn Thị Hậu và nhiếp ảnh gia Minh Hòa (trái) đồng tình ký ức là một phần di sản tinh thần của đô thị. Ảnh: OmegaPlus

Theo TS. Nguyễn Thị Hậu, di sản đô thị là một tổng thể gồm cả vật thể và phi vật thể. Chúng gồm di tích khảo cổ dưới lòng đất, cảnh quan và công trình trên mặt đất, các yếu tố kiến trúc và phi vật thể như lễ hội, lối sống, văn hóa, đạo đức… Tất cả tạo nên khía cạnh lịch sử - xã hội của thành phố trong từng giai đoạn, phản ánh quá trình phát triển đô thị.

Tuy vậy trong nghiên cứu và thực tiễn, người ta thường chú ý nhiều đến di tích vật thể vì chúng hiện hữu rõ ràng. Vì vậy bảo tồn di sản đô thị, dưới góc độ này, trước hết là bảo tồn các khu vực có công trình di sản như một tổng thể, sau đó mới đến các công trình đơn lẻ.

Dẫu thế, cũng cần biết rằng, bảo tồn vật thể chính là cơ sở để bảo tồn yếu tố phi vật thể, bởi khi một công trình mất đi, ký ức về nó cũng dần biến mất. Ví dụ với những công trình không còn như Thương xá Tax, trong khi thế hệ trước vẫn còn nhớ được hình ảnh và vị trí công trình, thì các thế hệ sau sẽ dần lãng quên. Tương tự, hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng đã bị đốn hạ để dành đất làm hạ tầng cầu đường, hàng cây này giờ cũng chỉ còn lại trong ký ức hay qua những bưu ảnh… Đây chính là mối quan hệ giữa di sản hữu hình và ký ức đô thị.

Từ thực tiễn trong và ngoài nước, theo bà Hậu, bảo vệ di sản thực chất là vấn đề chính sách và thực thi chính sách văn hóa đô thị. Nó bắt đầu từ cấp vĩ mô nhưng được hiện thực hóa bằng hành động cụ thể của nhiều bên tham gia.

Theo TS. Nguyễn Thị Hậu, hệ thống di sản phải xuất phát từ các đặc trưng đô thị. Ảnh: OmegaPlus

Theo TS. Nguyễn Thị Hậu, hệ thống di sản phải xuất phát từ các đặc trưng đô thị. Ảnh: OmegaPlus

Ngoài ra, hệ thống di sản cũng phải xuất phát từ các đặc trưng đô thị, bao gồm đặc trưng tự nhiên, lịch sử - văn hóa và cộng đồng cư dân. Qua gần 20 năm nghiên cứu, bà rút ra bốn đặc trưng cơ bản mà nếu mất đi, “gen” Sài Gòn – TP.HCM sẽ thay đổi, dẫn đến một diện mạo khác, một bản sắc khác.

Chúng gồm, thứ nhất là địa lý tự nhiên - nền tảng của đô thị. Sài Gòn - TP.HCM có cảnh quan sông nước hướng biển và tính kết nối. Thứ hai, ngay từ khi hình thành, Sài Gòn đã là trung tâm kinh tế, giao thương, dịch vụ và công nghiệp. Thứ ba là sự đa dạng văn hóa tộc người, gắn với quá trình nhập cư liên tục và biến động dân cư. Cuối cùng, đây là đô thị được quy hoạch theo kiểu phương Tây từ rất sớm.

Từ bốn đặc trưng trên có thể hình dung hệ thống di sản vật thể và phi vật thể của thành phố. Về phi vật thể, sự đa dạng tộc người kéo theo đa dạng lễ hội, ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng (Việt, Hoa, Khmer, Ấn…), trong khi với nhánh vật thể, các đặc trưng này biểu hiện thành một hệ thống di sản phong phú.

Hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng giờ chỉ còn lại trong ký ức hay qua những bưu ảnh. Ảnh: Trung Dũng

Hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng giờ chỉ còn lại trong ký ức hay qua những bưu ảnh. Ảnh: Trung Dũng

Theo cách tiếp cận loại hình học, có thể phân chia di sản vật thể thành chín loại hình để nhận diện chức năng, cấu trúc và phục vụ trùng tu chính xác, tránh làm sai lệch các yếu tố gốc. Việc phân loại các loại hình di sản cũng nhằm nhận diện và có cách ứng xử phù hợp: có cái cần giữ, có cái có thể chuyển đổi.

Bà Hậu cũng lưu ý cảnh quan và văn hóa đô thị là một quần thể, không thể tách rời thành các đơn vị đơn lẻ. Do đó nếu khu trung tâm thành phố đã được xác định là vùng di sản thì cần được bảo tồn như một chỉnh thể, không thể chỉ giữ riêng từng công trình như nhà hát hay nhà thờ, trong khi cảnh quan xung quanh lại bị phá bỏ. Khi bối cảnh không còn, giá trị của công trình cũng sẽ suy giảm.

Vì vậy, các lý thuyết quy hoạch di sản đô thị đều nhấn mạnh: cảnh quan phải được nhìn nhận như một tổng thể. Mọi can thiệp vào công trình đều cần xét đến toàn bộ không gian đô thị xung quanh, đúng như cách đô thị được hình thành và quy hoạch từ đầu.

Nhiếp ảnh gia Minh Hòa cho biết nhiếp ảnh cũng phản ánh một cách đặc biệt chính sách quy hoạch của thành phố. Ảnh: Minh Anh

Nhiếp ảnh gia Minh Hòa cho biết nhiếp ảnh cũng phản ánh một cách đặc biệt chính sách quy hoạch của thành phố. Ảnh: Minh Anh

Nhiếp ảnh và vai trò lưu giữ lịch sử đô thị

Nhưng dù thuộc phân loại nào, thì cũng không thể phủ nhận mọi di sản vật thể đều gắn với di sản phi vật thể, trong đó ký ức đô thị là quan trọng nhất. Khác với nông thôn - nơi gắn kết bằng huyết thống, đô thị gắn kết qua mối quan hệ giữa con người và không gian sống.

Vì vậy đã có không ít người cố gắng lưu giữ những ký ức này. Một trong số đó là nhiếp ảnh gia Nguyễn Minh Hòa. Với hơn 45 năm kinh nghiệm, những năm gần đây, ông dành nhiều tâm huyết ghi lại hình ảnh lịch sử, di sản và văn hóa Sài Gòn.

Tại buổi tọa đàm, nhiếp ảnh gia Minh Hòa cho biết mình vốn là nhiếp ảnh gia tự do, trước đây tập trung chủ yếu vào mảng chân dung cũng như thời trang. Tuy nhiên bởi nhận ra tư liệu, hình ảnh về Sài Gòn giai đoạn 1975 - 1990 còn tương đối ít, nên sau khi con cái trưởng thành, ông đã dành nhiều thời gian hơn để chụp thành phố.

Một trong những hướng đi mà ông đặc biệt theo đuổi là đối chiếu ảnh xưa - nay. Trong đó, ông sử dụng tư liệu từ khoảng thập niên 1920 rồi sau đó chụp lại cũng đúng góc cũ để thấy được sự thay đổi.

Chẳng hạn ga Sài Gòn – chợ Bến Thành trước đây có bùng binh lớn, nhưng nay không còn. Ngoài ra tại công trường Mê Linh cũng từng đặt tượng Hai Bà Trưng nên con đường mang tên này (hiện nay đặt tượng Trần Hưng Đạo), và giữ cho đến ngày nay, minh chứng cho sức bền của ký ức đô thị…

Những ngôi trường có kiến trúc Pháp thuộc là một trong những đề tài mà ông theo đuổi. Ảnh: Minh Anh

Những ngôi trường có kiến trúc Pháp thuộc là một trong những đề tài mà ông theo đuổi. Ảnh: Minh Anh

Không dừng ở đó, nhiếp ảnh gia Minh Hòa cũng ghi lại những khoảnh khắc đặc biệt của thành phố này, có thể kể đến như vào dịp Tết không kẹt xe, không gian trở nên tĩnh lặng. Trong giai đoạn đại dịch Covid-19, ông cũng ghi được hình ảnh núi Bà Đen quan sát được từ trung tâm thành phố, nơi chỉ số ô nhiễm giảm mạnh vì thực hiện giãn cách xã hội… Ngoài ra ông cũng gắn liền với những bức ảnh chụp các ngôi trườngsở hữu kiến trúc Pháp, như trường Trần Đại Nghĩa, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Lê Hồng Phong…

Từ những trải nghiệm đó nhiếp ảnh gia Minh Hòa khẳng định rằng: “Nhiếp ảnh không chỉ là ghi hình mà là kể chuyện. Khi hiểu và kể lại câu chuyện đằng sau mỗi không gian, mỗi công trình, thì người xem (dù là cư dân hay người đến từ nơi khác) đều có thể hình thành tình cảm sâu sắc hơn với thành phố này”.

Không dừng ở đó, nhiếp ảnh cũng có khả năng phản ánh hiện thực đặc biệt về quy hoạch đô thị. Chẳng hạn khi chụp một loạt tượng đài, ông nhận ra và lấy làm tiếc là có những công trình dân sự vượt quá chiều cao của các di sản. Trong khi từ góc nhìn trên cao qua drone hay trực thăng, thì bên cạnh cảm xúc ngoạn mục trước cảnh quan là một nỗi buồn trĩu nặng khi những mái ngói xuất hiện xen lẫn cao ốc một cách lộn xộn, phản ánh sự thiếu nhất quán trong khâu quy hoạch qua các thời kỳ…

Như vậy có thể nhận thấy Sài Gòn – TP.HCM là một thành phố có cấu trúc giàu lịch sử, nhưng đang phải đối diện với áp lực phát triển nhanh.

Biệt thự chú Hỏa được chỉnh trang và chuyển đổi công năng nhận được sự đồng thuận cao. Ảnh: Trung Dũng

Biệt thự chú Hỏa được chỉnh trang và chuyển đổi công năng nhận được sự đồng thuận cao. Ảnh: Trung Dũng

Tiếng nói cộng đồng và áp lực thay đổi chính sách bảo tồn

Tại buổi tọa đàm, trả lời câu hỏi của độc giả về việc nhìn nhận vai trò của các công trình thời Pháp thuộc tạo ra dư luận mới đây, TS. Nguyễn Thị Hậu nhận định việc xem xét công bằng chỉ mới được thực hiện tương đối quy củ, khách quan trong những năm gần đây, bởi trước đó từng tồn tại quan điểm cho rằng những gì thuộc về phong kiến hay là thực dân thì “không phù hợp” với ngày hiện tại.

Bà khẳng định đó là cách nhìn có phần phiến diện, khi chỉ đặt mọi thứ trong lát cắt lịch sử đơn tuyến. Theo bà, mỗi công trình đều mang giá trị lịch sử với chính vùng đất nơi nó tồn tại. Chẳng hạn với một đô thị hơn 300 năm như Sài Gòn, thì những công trình 100 - 200 năm tuổi hoàn toàn có ý nghĩa như những “chứng nhân” của quá trình hình thành và phát triển. Do đó không thể so sánh đơn giản với các vùng có lịch sử hàng nghìn năm để rồi phủ nhận giá trị của chúng.

Không dừng ở đó, các công trình còn có giá trị kiến trúc và văn hóa. Mỗi công trình tiêu biểu cho một phong cách, một tầng lớp xã hội và một thời kỳ nhất định. Từ những ngôi nhà gỗ dân gian đến các dinh thự, biệt thự hay công trình công cộng… tất cả đều góp phần tạo nên diện mạo văn hóa đô thị. Kiến trúc, vì thế, không chỉ là hình thức, mà còn là một phần quan trọng của ký ức văn hóa.

Việc chỉnh trang chợ Bến Thành, Hồ Con Rùa vừa qua cho thấy sự đóng góp của người dân vào việc bảo tồn di sản đô thị. Ảnh: Anh Nhàn

Việc chỉnh trang chợ Bến Thành, Hồ Con Rùa vừa qua cho thấy sự đóng góp của người dân vào việc bảo tồn di sản đô thị. Ảnh: Anh Nhàn

Cuối cùng, cũng cần quan tâm đến giá trị kinh tế của di sản. Nếu được nhìn nhận, khai thác đúng cách, các công trình này hoàn toàn có thể chuyển hóa thành nguồn lực phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch văn hóa. Do đó, điều quan trọng không nằm ở việc giữ lại một cách thụ động, mà là sử dụng một cách phù hợp để vừa bảo tồn, vừa phát huy giá trị.

Từ góc nhìn đó, có thể thấy việc đánh giá di sản cần bắt đầu bằng sự tôn trọng lịch sử của chính vùng đất. Dù công trình thuộc về giai đoạn nào, miễn là được xây dựng, tồn tại và gắn bó với đời sống con người ở đó, thì đã trở thành một phần của di sản. Và khi nhìn nhận như vậy, ta mới có thể thấy rõ giá trị thực sự của chúng trong dòng chảy liên tục của đô thị.

Bà cũng nói thêm trong khoảng hai thập niên gần đây, có thể nhận diện bốn nhóm tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến câu chuyện bảo tồn di sản. Trước hết là chính quyền và các cơ quan quản lý đô thị - bao gồm các sở, ngành liên quan đến di sản và cả bất động sản xung quanh. Đây là lực lượng nắm quyền quyết định về quy hoạch, cấp phép và định hướng phát triển, nên có vai trò mang tính then chốt.

Thứ hai là giới nghiên cứu và giảng dạy. Tuy vậy, bà cũng nhấn mạnh nghiên cứu sẽ không trọn vẹn nếu chỉ dừng ở học thuật mà không đi ra cộng đồng. Ngoài ra, những phát hiện, tri thức về giá trị di sản cần được truyền đạt rộng rãi, để cả xã hội (trong đó có nhà quản lý) có thể hiểu được, đưa ra quyết định thận trọng hơn nữa.

Thứ ba là cộng đồng, không chỉ cư dân tại chỗ mà bất kỳ ai quan tâm đến di sản đều có quyền lên tiếng. Những câu chuyện như bảo vệ cảnh quan Hồ Tây tại Hà Nội hay các công trình tại TP.HCM gần đây cho thấy tiếng nói cộng đồng không bị giới hạn về mặt địa lý, bởi di sản là tài sản chung, nên trách nhiệm gìn giữ cũng rất rộng mở.

Cụm công trình kiến trúc cổ tại trung tâm TP.HCM. Ảnh tư liệu: Minh Hòa

Cụm công trình kiến trúc cổ tại trung tâm TP.HCM. Ảnh tư liệu: Minh Hòa

Nhòm thứ tư, và ngày càng có sức ảnh hưởng lớn, là các nhà đầu tư. Trước đây, nhóm này thường được xem là một phần của cộng đồng, nhưng với tác động ngày càng mạnh mẽ đến diện mạo đô thị, họ dần trở thành lực lượng riêng biệt. Mục tiêu của họ không thể khác đi chính là lợi nhuận, từ đây đặt ra vấn đề cân bằng giữa lợi ích phát triển và bảo tồn, bởi phát triển đô thị không thể tách rời giá trị di sản.

Trong bối cảnh hiện nay, nhiều nghiên cứu cho rằng chính quyền, nhà quản lý và nhà đầu tư đang giữ vai trò quyết định, nhưng theo thời gian, tiếng nói của cộng đồng cũng đang có sức ảnh hưởng mạnh mẽ. Có thể minh chứng qua việc thay đổi màu sơn hay thiết kế cảnh quan ở chợ Bến Thành, khu vực Hồ Con Rùa… gần đây.

Từ đó có thể rút ra mỗi cá nhân đều có tiếng nói trong việc bảo vệ di sản. Nếu chỉ dừng ở sự tiếc nuối mà không lên tiếng, thì những giá trị ấy rất dễ biến mất. Ngược lại, khi nhiều người cùng quan tâm, cùng bày tỏ, tiếng nói cộng đồng sẽ tạo thành áp lực tích cực, buộc các quyết định phải được cân nhắc thấu đáo hơn nữa.

Bảo tồn, vì thế, không chỉ là trách nhiệm của một nhóm riêng lẻ, mà là một quá trình đồng hành giữa nhiều phía. Và điều quan trọng nhất là giữ được nhận thức rằng: “Những gì còn có thể giữ lại thì cần được giữ bằng mọi cách có thể”.

Minh Anh

_______________

(*) Sự kiện Nhìn về di sản Sài Gòn – Gìn giữ, bảo tồn và phát triển diễn ra sáng 21.3 tại Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia II (TP.HCM) trong khuôn khổ Tuần lễ Sách Phương Nam.

Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/giu-gen-do-thi-truoc-ap-luc-phat-trien-52093.html