Giữ mùa biển quê mình
Ở biển quê mình, cứ chừng gió chướng vừa dứt, nắng xuân hong lại những bãi cát dài trắng mịn là ngư dân lại rục rịch tính chuyện mùa mành cơm.

Ngư dân đang xương mành. Ảnh: H.V.M
Nghề bắt đầu từ tháng Giêng tới tháng Tám âm lịch. Nhưng muốn biển thương, cá đầy khoang thì đâu phải đợi tới ngày nổ máy mới lo. Mọi thứ đã chuẩn bị từ mấy tháng trước, khi trời vẫn còn làm nghịch, chướng cuối năm.
Mùa xương nghề, mùa mành cơm
Tháng Mười Một, tháng Chạp, mấy ông lái ghe đã lo coi ngày để tu bổ ghe máy. Nào lận mê, thay mê, xương mành, giáp đảy, bọc cá… Cái ghe, cái máy là đời sống kiếm cơm của cả bạn chài. Một con ốc lỏng, một thanh nan mục cũng không được phép qua loa. Ghe có chắc thì lòng người mới yên. Ra biển là gửi mình cho sóng gió, nên kỹ lưỡng bao nhiêu thì bớt lo bấy nhiêu.
Tháng Giêng đến là ngày “xương nghề”, ngày vui như hội. Tờ mờ sáng, anh em bạn thuyền đã có mặt ngoài bãi. Mỗi người khiêng một dây mành đặt cho đúng chỗ. Trước đó đã bốc xăm theo thứ tự, từ dây kình hai bên tới phần lườn. Dây của ai người đó tự xương. Tay phải đều, đường xương phải chắc, mắt lưới khít mà không rối. Tiếng cười nói rộn cả bãi cát.
Học trò ngày đó thích nhất mấy buổi xương nghề. Tan trường là quăng cặp, nhào vô phụ gài nhợ, xương mành. Xương được chừng nào hay chừng nấy, chỉ mong trưa được ngồi ăn chung tô bún cá, bún thịt nóng hổi giữa gió biển. Cái vị mặn của gió quyện trong tô bún, ngon hơn bất cứ cao lương mỹ vị nào sau này.
Nghề mành cơm ở Tân Thái xưa trải qua bao đổi thay. Thuở đầu là mành gai, rồi mành đuốc, ánh lửa lập lòe từ cây sặc giữa biển đêm. Rồi mành đèn với ánh măng xông sáng trắng. Sau này có máy thủy, có bình onan phát điện sáng rực một góc trời. Nhưng dù đuốc hay đèn, ngư dân vẫn bám biển mà sống.
Ghe còn ra biển, biển còn hơi người
Đầu năm là chuyến xuất hành ra khơi. Ngư dân thường tổ chức lễ hội cầu ngư vào ngày 26 tháng Giêng để cầu mong trời yên biển lặng, cá tôm đầy khoang. Họ không cầu giàu sang, chỉ mong “đi bình an, về đầy đủ”.
Vào dịp lễ cúng Ông Ngư, bà con cùng chung tay góp sức: người lo phần lễ, người nấu nướng, người dựng rạp. Không khí trang nghiêm mà ấm áp nghĩa tình. Từ sáng sớm, hương khói đã nghi ngút trước án thờ Ông Ngư. Các bô lão khăn đóng áo dài thành kính dâng lễ, đọc văn tế. Tiếng trống, tiếng thanh la hòa cùng tiếng sóng vỗ tạo nên âm thanh rộn rã.
Những chiếc ghe được trang hoàng cờ phướn rực rỡ, mũi ghe buộc dải lụa đỏ, trên mui đặt mâm lễ nhỏ xin lộc biển. Ngày ấy, lăng Ông Ngư như một sân khấu lớn của niềm tin và tình làng nghĩa xóm. Lễ cầu ngư không chỉ là nghi thức tín ngưỡng, mà còn là lời nhắc nhở con cháu nhớ ơn Đức Ngài, biển cả, nhớ ơn tiền nhân đã đổ mồ hôi, xương máu để giữ gìn ngư trường quê hương.
Ngày xuất hành, ghe nối đuôi nhau ra biển, người ở bến đứng tiễn cho đến khi những con thuyền chỉ còn là chấm nhỏ giữa trùng khơi. Mỗi chiếc ghe ra khơi không chỉ để đánh bắt hải sản. Với ngư dân, đó còn là một cột mốc sống giữa biển đảo quê hương, không cần dựng bia, không cần khắc đá, chính bóng dáng ngư dân ngày đêm hiện diện ngoài khơi đã âm thầm khẳng định chủ quyền. Ghe còn ra biển là biển còn hơi người quê mình.
Làng biển giữa nhịp đô thị hóa
Bến cá khi ghe về lại đông như hội. Cá cơm than lấp lánh, cá nục, cá trích đầy khoang. Người đội thúng, kẻ quang gánh, tiếng cười nói hòa với mùi cá tươi, mùi nắng, mùi mồ hôi lao động, thành thứ hương vị rất riêng của làng biển. Nghề biển không chỉ nuôi sống bao thế hệ, mà còn dạy người ta biết thương nhau, biết nương tựa giữa mênh mông sóng nước. Một ghe gặp nạn là cả làng lo. Một ghe trúng đậm là cả làng vui.
Vậy mà hôm nay, đô thị hóa tràn về, bãi biển dần nhường chỗ cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng. Có những bãi quen thuộc như bãi Nồm, bãi Bấc bên bán đảo Sơn Chà từng in dấu bao mùa biển, nay đối diện nguy cơ bị thu hẹp quyền mưu sinh. Ngư dân lặng lẽ lui về phía sau. Có nơi người ta nghĩ chỉ cần đền bù vài khoản tiền là xong, là có thể “xả bản”, rời ghe bỏ biển. Nhưng tiền bạc không thay được biển. Mất ghe, mất nghề là mất luôn những cột mốc sống ngoài khơi. Khi bến cá im tiếng máy, khi ánh đèn mành không còn thắp sáng biển đêm, thì không chỉ mất kế sinh nhai, mà còn mất đi thế đứng bao đời của ngư dân trên chính vùng biển đảo quê hương mình.
Mong rằng các cấp lãnh đạo sẽ có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ ngư dân tiếp tục bám biển, giữ nghề. Tạo điều kiện để bà con được đánh bắt hợp pháp, ổn định sinh kế tại những ngư trường truyền thống như khu vực quanh Sơn Trà, bãi Nồm, bãi Con, bãi Bấc, bãi Trẹ, bãi Xếp...; đừng để việc cho thuê, khai thác du lịch làm thu hẹp không gian sinh tồn của người đi biển. Phát triển là cần thiết, nhưng phát triển phải hài hòa, để biển vừa là nguồn lực kinh tế, vừa là không gian sống của ngư dân - những người đang ngày đêm giữ gìn chủ quyền bằng chính sự hiện diện lặng thầm của mình.
Nghề biển đã tồn tại hàng trăm năm, nuôi lớn biết bao thế hệ giữ biển bằng chính sự hiện diện lặng lẽ mỗi ngày. Mong rằng giữa nhịp phát triển hôm nay, chúng ta đừng quên gốc rễ. Đừng để một ngày nào đó, con cháu chỉ còn nghe kể về ánh đèn mành như chuyện cổ tích. Bởi chừng nào còn tiếng máy ghe rền vang trong sớm mai, còn những chiếc ghe (thuyền) vươn khơi, thì chừng đó làng biển còn hồn, biển đảo quê hương còn bóng dáng người giữ gìn - mặn mà, nghĩa tình và kiên cường như sóng.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/giu-mua-bien-que-minh-3326125.html











