Giữ nếp xuân xứ Thanh trong màu bánh chưng gói lá chuối quê nhà
Màu xanh bánh chưng gói bằng lá chuối như giữ lại tình người xứ Thanh trong những ngày xuân chạm ngõ.
Có những điều chỉ đến Tết mới trở nên rõ ràng như một lời thì thầm từ ký ức. Tiếng lạt tre siết chặt nghe khẽ khẽ, mùi khói bếp quẩn quanh như sợi chỉ nối những mùa xuân cũ. Và sâu trong tất cả là màu xanh thẫm của chiếc bánh chưng gói bằng lá chuối. Ở Thanh Hóa, thiếu sắc xanh ấy, Tết dường như chưa kịp ghé thềm.
Giữa bao nhiêu hương vị của mùa xuân, bánh chưng vẫn là điều không thể thay thế trên bàn thờ gia tiên. Đó không chỉ là món ăn, mà là một lời thưa gửi lặng lẽ, cách con người chạm vào đất trời trong những ngày đất trời chuyển sắc xuân. Trong hình khối vuông vức ấy, lớp lá chuối không đơn thuần là vỏ bọc. Nó là lớp ký ức bọc ngoài ký ức và hương đồng nội quấn quýt quanh hạt nếp trắng trong.


Người dân Thanh Hóa quây quần gói bánh chưng bằng lá chuối. Ảnh: Diệu Linh
Ở xứ Thanh, lá chuối để gói bánh không thể hái vội. Người ta lựa lá từ trước Tết, có lá mỏng để lót trong, ôm sát hạt nếp cho mặt bánh mịn màng. Có lá dày để bọc ngoài, giữ cho từng cạnh bánh vuông thành sắc nét. Lá phải vừa độ, không quá già để giòn gãy, không quá non để thiếu dai. Sau khi rửa sạch, lá được hong qua nắng, qua lửa, để mềm đi mà vẫn giữ được màu xanh sâu thẳm. Khi lửa khẽ hơ qua mặt lá, một mùi thơm âm ấm tỏa ra, thứ hương dịu dàng như hơi thở của ruộng vườn cuối năm.
Chiếc bánh chưng phải vuông. Vuông như một niềm tin về sự vững bền. Vuông như mảnh đất nuôi sống bao thế hệ. Từng nếp gấp, từng vòng lạt là sự chăm chút tỉ mỉ, là nỗi mong năm mới được tròn đầy, không khuyết thiếu. Có những đôi tay không cần khuôn mà vẫn gói được chiếc bánh sắc sảo, như thể đã đo đạc bằng chính kinh nghiệm và tình yêu dành cho bếp lửa gia đình.
Và vì sao lại là lá chuối để gói bánh chưng, giữa những lựa chọn khác? Có lẽ bởi lá chuối đã ở đó, trong đời sống xứ Thanh, từ bao đời. Lá chuối gói nem, gói xôi, gói những thức quà mộc mạc của chợ quê. Khi bánh chín, lớp lá mềm ra, bóc nhẹ là mở ra cả một màu xanh mịn màng bên trong. Không vướng víu, không dính chặt, chỉ còn lại hương thơm quyện giữa nếp và lá, như thể đất và người vừa kịp nhận ra nhau sau một hành trình dài qua lửa.



Lá chuối mầu xanh thẫm như mầu của những cánh đồng sau mùa gặt.
Nồi bánh chưng đỏ lửa suốt đêm. Nước sôi lục bục như nhịp thở của thời gian. Lá chuối trong nồi âm thầm giữ ẩm, giữ nhiệt, che chở cho hạt nếp chín đều, cho nhân đậu và thịt hòa quyện. Khi bánh được vớt lên, ép cho ráo nước, màu xanh thẫm hiện ra, không chói lòa mà sâu lắng, như màu của những cánh đồng sau mùa gặt.
Bánh thường được gói thành cặp. Hai chiếc bánh đặt cạnh nhau như hai nửa bổ sung cho nhau để thành trọn vẹn. Sự song hành ấy gợi nhắc về âm và dương, về đầy và vơi, về ước mong cân bằng trong một năm mới.
Nhưng đẹp nhất vẫn là khoảnh khắc quây quần quanh bếp. Lá được rửa sạch, gạo được vo kỹ, thịt được ướp đậm đà. Mỗi người một việc, tiếng cười xen lẫn tiếng lạt tre chạm vào nhau. Đêm canh bánh là đêm ấm nhất của tình người, của gia đình đoàn viên. Bên ánh lửa hồng, câu chuyện năm cũ chậm rãi trôi đi, nhường chỗ cho hy vọng của năm mới. Hơi ấm không chỉ từ bếp lửa, mà từ sự hiện diện của nhau.
Giờ đây, khi nhịp sống trở nên vội vàng, nhiều gia đình chọn mua bánh sẵn. Nhưng chỉ cần một lần chạm vào lớp bánh chưng gói bằng lá chuối còn vương mùi khói, ký ức lại mở ra. Mùi hương ấy có thể đưa người ta đi xa hơn cả một chuyến tàu trở về quê cũ.

Người ông tỉ mỉ hướng dẫn cháu gái cách gói bánh chưng, truyền lại hương vị Tết và nếp nhà qua từng nếp lá. Ảnh: Diệu Linh

Bánh chưng sau khi đã luộc chín.
Bánh chưng lá chuối không chỉ là món ăn của Tết. Nó là một cách giữ lại màu xanh của đất trong những ngày đầu năm. Là cách người ta giữ lấy truyền thống giữa bao đổi thay. Và mỗi độ xuân về, khi sắc đào sắc mai rực rỡ ngoài hiên, chỉ cần thấy chiếc bánh vuông vức nằm trang nghiêm trên bàn thờ, lòng chợt dịu lại. Tết đã về. Không ồn ào, không phô bày, chỉ xanh thẳm và bền bỉ như màu lá chuối quê nhà.











