Giữ nghề chạm bạc, giữ nét văn hóa Chăm

Hơn 50 năm gắn bó với nghề chạm khắc bạc, vợ chồng ông Kinh Văn Cần và bà Đàng Thị Mỹ Trâm không chỉ tạo dựng cuộc sống bằng đôi bàn tay khéo léo, mà còn bền bỉ gìn giữ và truyền lại nghề truyền thống gắn với đời sống văn hóa, nghi lễ của đồng bào Chăm ở Bàu Trúc.

Ông Kinh Văn Cần tập trung chế tác từng chi tiết trên sản phẩm chạm khắc bạc

Ông Kinh Văn Cần tập trung chế tác từng chi tiết trên sản phẩm chạm khắc bạc

Ở làng Chăm Bàu Trúc, xã Ninh Phước (Khánh Hòa), nghề gốm vốn được nhiều người biết đến qua đôi bàn tay khéo léo của những người phụ nữ. Nhưng trong đời sống văn hóa của cộng đồng Chăm nơi đây còn có một nghề truyền thống khác đang được gìn giữ lặng lẽ qua hơn nửa thế kỷ: Nghề chạm khắc bạc, chế tác những vật dụng phục vụ các nghi lễ truyền thống.

Và gia đình ông Kinh Văn Cần và bà Đàng Thị Mỹ Trâm là hộ duy nhất ở Bàu Trúc còn duy trì nghề chạm bạc thủ công truyền thống.

Hơn 50 năm qua, căn nhà của ông bà vẫn đỏ lửa nghề. Tiếng đục, tiếng gò kim loại đã trở thành âm thanh quen thuộc. Cũng từ nghề này, vợ chồng ông bà đã nuôi 9 người con ăn học trưởng thành và quan trọng hơn, giữ lại một nghề truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một.

Người vợ truyền nghề, người chồng giữ nghề

Ông Kinh Văn Cần quê ở Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng. Năm 1972, ông về Bàu Trúc, xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa lập gia đình với bà Đàng Thị Mỹ Trâm.

Những ngày đầu, ông chưa nghĩ mình sẽ gắn bó lâu dài với nghề chạm khắc bạc. Người đưa ông đến với nghề lại chính là người vợ của mình.

Bà Trâm được cha truyền nghề. Tập quán của người Chăm theo chế độ mẫu hệ, nghề truyền thống trong gia đình thường được truyền cho con gái. Từ những gì được cha dạy, bà Trâm kiên nhẫn hướng dẫn chồng từng công đoạn. Ông Cần bắt đầu từ những việc nhỏ nhất, vừa làm vừa học, dần dần thành thạo và gắn bó với nghề cho đến hôm nay.

Gia đình ông Kinh Văn Cần và bà Đàng Thị Mỹ Trâm là hộ duy nhất ở Bàu Trúc còn duy trì nghề chạm bạc thủ công truyền thống

Gia đình ông Kinh Văn Cần và bà Đàng Thị Mỹ Trâm là hộ duy nhất ở Bàu Trúc còn duy trì nghề chạm bạc thủ công truyền thống

Ông Cần chia sẻ: “Lúc mới về đây, tôi chưa ham làm nghề. Vợ cứ động viên, nói trong nhà đã có nghề rồi thì mình cùng làm, cùng giữ. Bố vợ truyền nghề cho vợ, rồi vợ truyền lại cho tôi. Tôi cứ chịu khó học, tập trung làm, rồi thành nghề lúc nào không hay”.

Trước đây, nghề chủ yếu được truyền cho con gái bởi các gia đình lo con trai học nghề rồi lập gia đình, nghề có thể theo đi nơi khác.

Nhưng với ông Cần, suy nghĩ ấy đã thay đổi. Ông cho rằng, nghề còn thì phải có người biết làm, bởi khi người Chăm còn nghi lễ, còn phong tục truyền thống thì những sản phẩm của nghề vẫn còn chỗ đứng trong đời sống cộng đồng.

“Tôi lớn tuổi rồi, chỉ mong truyền lại được cho con cháu. Bởi người Chăm còn nghi lễ, còn những phong tục truyền thống thì những sản phẩm của nghề này vẫn còn cần đến”, ông Cần nói.

Giữ nghề cũng là giữ ký ức văn hóa

Mỗi khi lễ hội Katê đến gần, căn nhà của vợ chồng ông Cần lại tất bật hơn. Những đơn hàng từ bà con trong làng và nhiều nơi khác tìm đến, chủ yếu là các vật dụng phục vụ nghi lễ như khay trầu, hộp đựng trầu, cặp chế nhổ trầu, mâm...

Với người Chăm, đó không đơn thuần là những vật dụng phục vụ sinh hoạt. Mỗi sản phẩm đều gắn với một nghi lễ, một phong tục được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Giữ nghề chạm khắc bạc là góp phần gìn giữ nét văn hóa độc đáo của đồng bào Chăm

Giữ nghề chạm khắc bạc là góp phần gìn giữ nét văn hóa độc đáo của đồng bào Chăm

Vì vậy, trước mỗi mùa Katê, người thợ không chỉ tất bật với đơn hàng mà còn phải chăm chút từng đường chạm, từng chi tiết để sản phẩm phù hợp với tập quán và giữ được nét riêng của nghề truyền thống.

Không chỉ khách hàng trong tỉnh Khánh Hòa, nhiều người ở Lâm Đồng, Đồng Nai, Tây Ninh, TP Hồ Chí Minh... cũng tìm đến đặt hàng. Có những khách hàng đã quen với sản phẩm của gia đình ông Cần, mỗi mùa Katê lại tìm về đặt những vật dụng cần thiết cho nghi lễ.

Hơn 50 năm theo nghề, vợ chồng ông Cần không chỉ sống được bằng đôi bàn tay của mình mà còn nuôi 9 người con ăn học trưởng thành. Những năm đơn hàng đều, nghề trở thành nguồn thu nhập ổn định của gia đình.

Nay bà Đàng Thị Mỹ Trâm đã lớn tuổi, đôi tay không còn đủ sức làm nghề như trước. Nhưng với bà, điều quan trọng không phải làm được bao nhiêu sản phẩm mà là nghề vẫn còn người biết làm.

Bà đã truyền lại nghề cho các con gái, để những người con tiếp tục trao truyền cho thế hệ sau, như chính cách cha bà từng truyền nghề cho mình.

“Cha tôi truyền nghề cho con gái. Hai vợ chồng làm với nhau rồi cũng nhờ nghề này mà nuôi các con ăn học đến nơi đến chốn.

Bây giờ mình lớn tuổi, làm không nổi nữa thì truyền lại cho con. Con truyền cho cháu. Nghề này không bỏ được. Người Chăm mình phải giữ nghề, không thể bỏ. Còn nghề thì con cháu còn biết ông bà ngày trước đã làm gì, đã sống như thế nào”, bà Trâm chia sẻ.

Để mỗi sản phẩm chạm khắc bạc không chỉ gắn với đời sống, sinh hoạt, nghi lễ, mà còn là một nét văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ người Chăm

Để mỗi sản phẩm chạm khắc bạc không chỉ gắn với đời sống, sinh hoạt, nghi lễ, mà còn là một nét văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ người Chăm

Trong 9 người con, vợ chồng ông Cần truyền nghề cho 2 người con gái. Tuy nhiên, ông không muốn nghề chỉ dừng lại trong phạm vi gia đình. Khoảng 10 thanh niên trong làng cũng đã được ông hướng dẫn cách làm.

Những lúc đơn hàng nhiều, con gái út lại về phụ cha mẹ. Người làm lâu năm chỉ dẫn người trẻ từng công đoạn; người trẻ đảm nhận những phần việc vừa sức. Cứ thế, nghề được truyền từ đôi tay này sang đôi tay khác, bắt đầu ngay trong căn nhà, từ những công việc cụ thể của đời sống lao động.

Với ông Cần, giữ một nghề truyền thống không chỉ là giữ cách làm ra một sản phẩm mà quan trọng hơn là phải có người tiếp tục làm nghề khi thế hệ của ông không còn đủ sức.

Hơn 50 năm, nghề chạm khắc bạc đã đi qua gần trọn cuộc đời vợ chồng ông. Từ một người chồng được vợ truyền nghề, ông trở thành người truyền nghề cho con gái và cho những thanh niên trong làng.

Vật liệu ngày nay có thể đã thay đổi, từ bạc ròng sang đồng, nhôm; cách làm cũng dần thích nghi với cuộc sống mới. Nhưng những đường nét, kiểu dáng và các vật dụng gắn với nghi lễ Chăm vẫn được những người thợ gìn giữ.

Và ở Bàu Trúc hôm nay, khi tiếng đục vẫn vang lên trong những ngày cận Katê, nghề chạm khắc bạc vẫn đang tiếp tục câu chuyện của mình - từ bàn tay của một thế hệ, truyền sang bàn tay của thế hệ kế tiếp. Và văn hóa của đồng bào Chăm sẽ được lưu truyền như thế, vững bền theo thời gian.

MINH HÙNG

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/dan-toc-ton-giao/giu-nghe-cham-bac-giu-net-van-hoa-cham-267983.html