Giữ nghề truyền thống trên thượng nguồn sông Chảy
Vùng đất Si Ma Cai trên thượng nguồn sông Chảy là nơi sinh sống lâu đời của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Giữa nhịp sống hiện đại, các dân tộc đang nỗ lực giữ gìn và phát huy các nghề thủ công truyền thống, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, hơn thế còn trở thành sinh kế mang lại ấm no cho đồng bào.

Đã nhiều năm nay, ngày nào cũng vậy, khi trời còn chưa sáng rõ, bà Cù Thị Ngăn, dân tộc Nùng, thôn Tà Chải, xã Si Ma Cai đã dậy nhóm bếp lửa để chuẩn bị cho công việc quen thuộc của gia đình - tráng những bánh phở nóng hổi bán cho bà con quanh vùng.
Năm nay 51 tuổi, nhưng bà Ngăn đã có 30 năm gắn bó với nghề tráng bánh phở do cha ông truyền lại. Dù cuộc sống trải qua bao thăng trầm, thì ở thôn người Nùng, gia đình bà Ngăn vẫn không bỏ nghề truyền thống của dân tộc.

Cầm trên tay bánh phở màu nâu đỏ vừa tráng xong còn nghi ngút khói, bà Ngăn bảo để làm ra bánh phở ngon trải qua nhiều công đoạn vất vả. Trước hết, phải chọn được nguyên liệu chính là gạo ngon (bà thường dùng gạo Bao thai hoặc gạo Sa mơ trộn lẫn với gạo nương đỏ theo tỷ lệ nhất định). Trong khi gạo Bao thai, gạo Sa mơ có thể mua ở nơi khác về, thì riêng gạo nương đỏ phải được trồng ở vùng đất Si Ma Cai mới có hương vị thơm ngon, mềm dẻo. Gạo sau khi được làm sạch, ngâm trong nước suối sẽ được nghiền thành bột để tráng bánh.
Trước đây, gia đình bà Ngăn cũng như nhiều hộ trong thôn đều tráng bánh bằng nồi đun bếp củi thủ công, tuy vất vả nhưng mỗi ngày chỉ tráng được khoảng 100 kg phở.
Mấy năm gần đây, bà Ngăn đầu tư mở xưởng làm bánh phở, mua nồi hơi, máy cắt phở về làm, vừa nhanh lại sản xuất được nhiều hơn.

Theo bà Ngăn, tráng bánh bằng nồi hơi vẫn sử dụng bếp củi nhưng nhiệt độ cao và đều, nên bánh chín kỹ hơn, chất lượng tốt hơn trước. Mỗi ngày, gia đình bà Ngăn tráng khoảng 300 kg bánh phở cung cấp cho các quán ăn trên địa bàn xã Si Ma Cai và các xã khác trong tỉnh, có khi còn gửi về Hà Nội theo đơn đặt hàng.
Ông Lùng Phủ Nam - chồng bà Ngăn chia sẻ: “Nghề làm bánh phở tuy vất vả sớm hôm, nhưng là nghề truyền thống, mang lại thu nhập khá cho gia đình nên 30 năm qua, tôi vẫn giữ nghề và truyền lại cho các con. Đến nay, các con tôi, mặc dù sang Mường Khương, Bắc Hà lập nghiệp, nhưng vẫn sống bằng nghề tráng bánh phở”.
Trên vùng đất Si Ma Cai, không chỉ gia đình ông Nam, bà Ngăn mà hiện nay có trên 20 hộ dân người Nùng vẫn đang giữ nghề tráng bánh phở truyền thống, tập trung chủ yếu ở thôn Tà Chải (xã Nàn Sán cũ) như các gia đình: Lùng Lìn Tài, Dì Chỉ Don, Lù Thanh Lương, Lèng Hai Chính…

Hầu hết hộ dân tráng bánh phở để bán vào chợ phiên, trong đó một số hộ làm đều đặn hàng ngày cung cấp cho các quán phở trong vùng. Từ nghề tráng phở, đời sống người dân thôn Tà Chải ngày càng no ấm, nhiều hộ xây được nhà đẹp, nuôi các con ăn học đầy đủ.

Rời thôn Tà Chải với nghề tráng bánh phở lâu đời, chúng tôi tìm đến thôn Cốc Phà - thôn người Mông cách hồ Cán Cấu không xa. Ở Cốc Phà, nhắc đến anh Vàng A Chẩn thì ai cũng biết, vì anh Chẩn vừa là Trưởng thôn Cốc Phà, vừa là người nhiều năm gìn giữ nghề làm khèn Mông truyền thống.
Bên ngôi nhà xây hai tầng khang trang, anh Chẩn đang cặm cụi cắt gọt những ống tre, trúc để làm cây khèn mới theo đặt hàng của khách. “Trong đời sống văn hóa và sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào Mông từ xưa đến nay đều không thể thiếu được cây khèn. Khèn để đi chơi với bạn trong lễ hội Gầu Tào, để thổi trong đám tang, đám cưới, để múa trong những ngày vui của bản làng. Vì thế, mỗi gia đình người Mông đều cố gắng mua một, hai cây khèn”, anh Chẩn chia sẻ.

Là nhạc cụ quen thuộc, không thể thiếu của người Mông, nhưng để chế tác ra một cây khèn không phải ai cũng làm được vì đòi hỏi nhiều loại nguyên liệu và bàn tay khéo léo, sự kiên trì, tỉ mỉ.
Anh Chẩn cho biết, bầu khèn thường được làm bằng các loại gỗ tốt và nhẹ như gỗ pơ mu, gỗ thông, còn các ống khèn làm bằng cây trúc dê thân nhỏ, có ống dài. Trong các công đoạn để làm ra cây khèn Mông, khó nhất là làm chiếc lưỡi gà bằng đồng để khi thổi sẽ phát ra âm thanh trầm bổng.
“Ngày trước, khi dạy tôi làm khèn bố tôi bảo để làm ra chiếc lưỡi gà tốt cần gom đủ 5 loại đồng rồi đun nóng chảy, đổ khuôn và cán thành miếng mỏng như chiếc dao lam, sau đó cắt thành hình lưỡi gà để khi thổi hơi qua lưỡi gà rung tạo thành âm thanh. Theo nghề của bố, năm 17 tuổi, tôi đã biết làm khèn và thổi khèn, cũng như biết múa thành thạo nhiều bài khèn của dân tộc. Bây giờ tôi vẫn giữ nghề truyền thống, rất cẩn thận khi làm từng cây khèn. Mỗi tháng, tôi làm được khoảng 10 cây khèn theo đơn đặt hàng của khách hoặc mang bán ở chợ phiên. Mỗi cây khèn có giá từ 3 triệu đến 6 triệu đồng”, anh Chẩn cho biết.

Theo lời anh Chẩn, mặc dù nghề làm khèn có thu nhập khá, sản phẩm làm ra không đủ để bán, nhưng hiện giờ ở xã Si Ma Cai ngoài anh ra những người đang theo nghề làm khèn Mông chỉ đếm trên đầu ngón tay. Bởi nghề làm khèn cần bàn tay khéo léo và đòi hỏi kiên trì vì mất rất nhiều công mới làm ra được một sản phẩm. Trong khi đó, thanh niên ở các thôn đều bận đi học hoặc đi làm ăn xa, làm thuê cho các công ty doanh nghiệp, ít người muốn theo nghề của cha ông. Mặc dù vậy, anh Chẩn vẫn quyết tâm giữ nghề truyền thống và mong muốn được truyền lại cho thế hệ sau.

Trên vùng đất Si Ma Cai nơi thượng nguồn sông Chảy có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trong đó có các dân tộc Mông, Nùng, Thu Lao, Tày… Mỗi dân tộc có bản sắc riêng và có những nghề truyền thống riêng. Theo dòng chảy của thời gian, đến nay có những nghề truyền thống vẫn được duy trì và phát huy tốt giá trị, nhưng cũng có nghề đang dần bị mai một vì chỉ còn một số người cao tuổi, trung tuổi theo nghề của cha ông. Câu chuyện về những người đang miệt mài giữ nghề làm bánh phở, làm khèn ở Si Ma Cai chỉ là hai minh chứng cho điều đó.

Tuy nhiên, có những nghề đang đứng trước nguy cơ mai một như rèn đúc, làm nhạc cụ dân tộc, chạm khắc bạc, trồng bông dệt vải… Nguyên nhân do hiện nay nhiều sản phẩm công nghiệp dần thay thế các sản phẩm thủ công trong đời sống của đồng bào và những người nắm giữ kỹ thuật, bí quyết nghề tuổi ngày càng cao. Một số nghề truyền thống nếu không được quan tâm bảo tồn sẽ dẫn đến thất truyền.
Bà Nguyễn Thị Kiều Oanh - Phó Chủ tịch UBND xã Si Ma Cai cho rằng, những nghề thủ công truyền thống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn xã Si Ma Cai là di sản văn hóa quý báu do thế hệ trước truyền lại, thể hiện tinh hoa văn hóa, bản sắc mỗi dân tộc.
Hiện nay, Đảng ủy xã Si Ma Cai đang tập trung thực hiện Đề án số 5 về Bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa các dân tộc gắn với phát triển du lịch xã Si Ma Cai, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Trong đó, chú trọng sưu tầm các hiện vật, thống kê lập danh sách người nắm giữ và thực hành di sản; xây dựng hồ sơ đề nghị công nhận nghệ nhân; biên tập tài liệu, tổ chức các lớp truyền dạy nghề thủ công truyền thống trong cộng đồng; quan tâm việc truyền dạy các giá trị văn hóa đặc sắc trong các nhà trường.
Theo dòng chảy của đời sống xã hội, nghề thủ công truyền thống của đồng bào các dân tộc xã Si Ma Cai cũng trải qua không ít thăng trầm. Mong rằng với những giải pháp thiết thực, địa phương sẽ tháo gỡ được khó khăn, làm tốt công tác bảo tồn, phát huy giá trị nghề truyền thống, không để những giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc thiểu số trên thượng nguồn sông Chảy bị mai một trong đời sống hiện đại.
