Giữ vững 'trụ cột môi trường' trong phát triển ngành khai khoáng

Công tác bảo vệ môi trường trong ngành khai khoáng đang có sự chuyển dịch rõ rệt, từ kiểm soát tác động sang trở thành một trụ cột trong chiến lược phát triển.

Chủ động “nội luật hóa” chương trình vào sản xuất

Bảo vệ môi trường không còn là yếu tố bổ trợ, mà đang trở thành một trụ cột trong phát triển công nghiệp, đặc biệt là ngành khai khoáng. Việc Chính phủ ban hành Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường (CNMT) Việt Nam giai đoạn 2025 - 2030 (ngày 4/9/2025) đã mở ra định hướng phát triển mới, đưa công nghiệp môi trường tham gia trực tiếp vào quá trình tăng trưởng.

Công tác bảo vệ môi trường trong ngành khai khoáng đang có sự chuyển dịch rõ rệt, từ kiểm soát tác động sang trở thành một trụ cột trong chiến lược phát triển. Ảnh minh họa.

Công tác bảo vệ môi trường trong ngành khai khoáng đang có sự chuyển dịch rõ rệt, từ kiểm soát tác động sang trở thành một trụ cột trong chiến lược phát triển. Ảnh minh họa.

Theo đó, yêu cầu không dừng lại ở kiểm soát ô nhiễm, mà tiến tới làm chủ công nghệ, phát triển thị trường và hình thành hệ sinh thái công nghiệp môi trường gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Chương trình đặt mục tiêu chủ động 70 - 80% công nghệ xử lý nước thải, 60 - 70% công nghệ xử lý khí thải. Đồng thời, nâng cao năng lực thu gom, phân loại và tái chế chất thải. Qua đó, xác lập định hướng rõ ràng cho hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp.

Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp trong ngành khai khoáng đã chủ động triển khai các giải pháp bảo vệ môi trường theo định hướng của Chương trình. Thực tiễn tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho thấy, các định hướng này không chỉ dừng ở chủ trương, mà đã được cụ thể hóa bằng các chương trình hành động và kết quả rõ rệt.

Ngay từ cuối năm 2024, Tập đoàn đã ban hành đồng bộ các nghị quyết, chỉ thị và chương trình hành động về phát triển bền vững, gắn với bảo vệ môi trường. Trong đó, nổi bật là Nghị quyết số 212-NQ/ĐU (ngày 19/12/2024) và Chương trình hành động số 02/CTr-TKV (ngày 02/01/2025).

Các hội nghị chuyên đề về bảo vệ môi trường và phòng, chống thiên tai được tổ chức liên tiếp trong những tháng đầu năm 2025, đi kèm với các thông báo kết luận mang tính chỉ đạo xuyên suốt.

Mục tiêu được xác định rõ là không để xảy ra sự cố môi trường, đồng thời gắn chặt hoạt động sản xuất với định hướng phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Điều này cho thấy cách tiếp cận trong công tác bảo vệ môi trường đã có sự chuyển dịch rõ rệt, từ bị động sang chủ động. Đây không chỉ là yêu cầu về tuân thủ, mà còn là bước chuyển về tư duy phát triển trong toàn ngành.

Qua đó cho thấy, công tác bảo vệ môi trường không chỉ dừng ở chính sách, mà đang từng bước được “nội luật hóa” trong thực tiễn sản xuất của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, TKV tham gia tích cực vào quá trình hoàn thiện thể chế. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình CNMT.

Trong năm 2025, Tập đoàn đã làm việc với Đoàn giám sát của Quốc hội về việc thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Đồng thời, tham gia các hội thảo, góp ý chính sách với Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan, tập trung vào các nội dung như đánh giá tác động môi trường, cấp phép môi trường và quản lý chất thải.

Cùng với việc xây dựng chính sách, TKV đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền và đào tạo nhằm nâng cao nhận thức, năng lực quản lý môi trường cho toàn hệ thống. Theo đó, Tập đoàn đã mở rộng các hoạt động trồng cây xanh, góp phần phục hồi môi trường và cải thiện cảnh quan tại các khu vực khai thác, đặc biệt tại Quảng Ninh, khẳng định trách nhiệm đồng hành cùng phát triển bền vững.

Từ kiểm soát đến phát triển bền vững

Trong lĩnh vực nước thải, TKV duy trì vận hành ổn định 48 trạm xử lý nước thải mỏ; đồng thời vận hành hơn 39 trạm xử lý nước thải công nghiệp và 80 trạm xử lý nước thải sinh hoạt, bảo đảm nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường.

Song song với vận hành, Tập đoàn tiếp tục đầu tư nâng cấp, mở rộng công suất các công trình xử lý nước thải. Trong năm 2025, một số công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, tiêu biểu như trạm xử lý nước thải dự án -150 Mạo Khê.

Trong quản lý chất thải, khối lượng phát sinh lớn được kiểm soát theo đúng quy hoạch và quy định về bảo vệ môi trường, bảo đảm hệ thống xử lý vận hành ổn định.

Ở lĩnh vực không khí, công tác kiểm soát bụi được triển khai đồng bộ trên diện rộng. Hơn 125 thiết bị phun sương dập bụi cao áp, 167 xe tưới nước chuyên dụng được đưa vào vận hành thường xuyên; công tác vệ sinh môi trường được duy trì trên hơn 30km đường vận chuyển, đặc biệt tại các khu vực gần khu dân cư và bãi thải.

Một điểm nhấn quan trọng là việc hoàn thành 44/44 phương án bảo vệ môi trường tổng thể tại các khu vực sản xuất lớn, đạt 100% kế hoạch đề ra.

Đây không chỉ là kết quả về tiến độ, mà còn thể hiện sự chuyển biến trong cách tiếp cận, từ xử lý riêng lẻ sang quản lý tổng thể, đồng bộ theo không gian sản xuất.

Trong lĩnh vực phục hồi môi trường, diện tích trồng cây trong năm 2025 đạt khoảng 100,2% kế hoạch, nâng tổng diện tích trồng cây của TKV lên khoảng 2.480 ha. Đây là chỉ số thể hiện rõ nét sự gắn kết giữa hoạt động khai thác và trách nhiệm phục hồi môi trường.

Đặc biệt, chuyển đổi số đang trở thành công cụ quan trọng trong quản lý môi trường. Trong năm 2025, TKV đã hoàn thành và đưa vào sử dụng phần mềm quản lý dữ liệu môi trường. Đồng thời, trung tâm quản lý dữ liệu quan trắc môi trường được nâng cấp, kết nối dữ liệu từ các đơn vị trong toàn Tập đoàn.

Cách tiếp cận này cũng bám sát định hướng của Chương trình phát triển ngành công nghiệp môi trường giai đoạn 2025 - 2030, trong đó nhấn mạnh yêu cầu thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lý, giám sát môi trường.

Bước sang năm 2026, TKV xác định rõ yêu cầu không chỉ duy trì các kết quả đã đạt được, mà phải chuyển mạnh từ tư duy “xử lý, khắc phục” sang “chủ động phòng ngừa và kiểm soát ngay từ đầu nguồn”, gắn công tác bảo vệ môi trường với toàn bộ chuỗi giá trị sản xuất.

Đáng chú ý, chuyển đổi số tiếp tục được xác định là một trong những trụ cột trong quản lý môi trường năm 2026.

Trên cơ sở đó, TKV đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giám sát, cảnh báo và điều hành. Đồng thời, từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý môi trường theo thời gian thực. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực quản trị môi trường trong bối cảnh mới.

Công tác bảo vệ môi trường không còn là khâu “đi sau” sản xuất, mà đang từng bước được thực hiện song hành với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khi các chỉ tiêu môi trường được quan tâm đúng mức, cùng với việc tăng cường ứng dụng công nghệ trong giám sát, kiểm soát, “trụ cột môi trường” tiếp tục được củng cố, góp phần nâng cao hiệu quả và tính bền vững trong phát triển ngành khai khoáng.

Lê Vân

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/giu-vung-tru-cot-moi-truong-trong-phat-trien-nganh-khai-khoang-450062.html