Giữ vững yếu tố quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển

Chiều 6-11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

Đại biểu Quốc hội cơ bản nhất trí sự cần thiết của việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đồng thời góp ý vào dự thảo luật để hoàn thiện cơ chế giải quyết chồng lấn không gian biển, bảo vệ sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển, nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm môi trường...

Về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ đất liền và hoàn thiện hệ thống chính sách của Nhà nước, đại biểu Trần Quang Tâm (đoàn Đắk Lắk) cho biết, hiện nay áp lực ô nhiễm từ đất liền và các hoạt động kinh tế ven biển đang có nguy cơ làm suy kiệt hệ sinh thái biển. Trong khi đó, các quy định về bảo vệ môi trường biển được nêu trong dự thảo luật chưa gắn kết chặt chẽ với cơ chế kiểm soát tải lượng ô nhiễm đổ ra biển.

Vì vậy, đại biểu Trần Quang Tâm đề nghị bổ sung nội dung khẳng định nguyên tắc: Cá nhân, tổ chức gây ô nhiễm hoặc làm suy thoái môi trường biển phải chịu chi phí phục hồi và bồi thường thiệt hại theo giá thị trường; đồng thời ưu tiên bố trí nguồn thu từ sử dụng biển để đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái biển.

Bên cạnh đó, dự thảo luật cần quy định rõ thời điểm chấm dứt, chế tài cứng rắn và đủ mạnh đối với các điểm xả thải công nghiệp ven bờ, thay vì chỉ giao cho địa phương rà soát, đánh giá, xác định biện pháp và lộ trình. Điều này dễ dẫn đến sự chậm trễ và thiếu hiệu quả.

 Đại biểu Quốc hội Trần Quang Tâm (đoàn Đắk Lắk). Ảnh: TRỌNG HẢI

Đại biểu Quốc hội Trần Quang Tâm (đoàn Đắk Lắk). Ảnh: TRỌNG HẢI

Nhấn mạnh yêu cầu giữ vững yếu tố quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, theo đại biểu Trần Quang Tâm, biển, đảo là không gian chiến lược đặc biệt nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến quốc phòng, an ninh. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung, hoàn thiện dự thảo luật theo hướng, đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học của các tổ chức, cá nhân nước ngoài có khoan ở đáy biển hoặc sử dụng các thiết bị khảo sát ở đáy sâu trong vùng biển Việt Nam, tuyệt đối không áp dụng cơ chế chấp thuận mặc nhiên, mà bắt buộc phải qua thủ tục thẩm định trực tiếp, thường xuyên và có sự tham gia giám sát trực tiếp của lực lượng chuyên trách quốc phòng Việt Nam.

Bên cạnh đó, cần bổ sung rõ hành vi cố ý cung cấp sai lệch tọa độ, thông số kỹ thuật hoặc sử dụng dữ liệu điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học biển làm phương hại đến quốc phòng, an ninh vào nhóm tội danh và hành vi vi phạm hành chính đặc biệt nghiêm trọng, làm căn cứ thu hồi giấy phép ngay lập tức và trục xuất người, phương tiện ra khỏi khu vực đang thực hiện.

Đề xuất bổ sung quy định hỗ trợ sinh kế cư dân ven biển

Trong khi đó, về chính sách hỗ trợ cộng đồng dân cư ven biển trong phát triển các hoạt động kinh tế, sử dụng không gian biển, đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm (đoàn TP Cần Thơ) cho rằng, dự thảo luật chưa xác định rõ trách nhiệm, phương án, nguồn kinh phí và thời điểm triển khai đối với cộng đồng bị ảnh hưởng trực tiếp. Trong sử dụng không gian biển, cần lưu ý đến trường hợp người dân có hoạt động mưu sinh hợp pháp nhưng không thuộc đối tượng có quyền sử dụng khu vực biển bị thu hồi. Nếu chỉ xem xét hỗ trợ khi thu hồi khu vực biển thì có thể chưa bao quát nhóm bị giảm thu nhập hoặc phải chuyển đổi nghề do dự án.

Đại biểu Quốc hội Triệu Thị Ngọc Diễm (đoàn TP Cần Thơ). Ảnh: TRỌNG HẢI

Đại biểu Quốc hội Triệu Thị Ngọc Diễm (đoàn TP Cần Thơ). Ảnh: TRỌNG HẢI

Từ thực tế trên, đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm kiến nghị bổ sung quy định, đối với cộng đồng dân cư ven biển có sinh kế hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dự án sử dụng không gian biển, UBND cấp tỉnh tổ chức xác định đối tượng, mức độ ảnh hưởng và phê duyệt phương án hỗ trợ. Phương án phải được tham vấn cộng đồng, công khai về đối tượng, nội dung, kinh phí, tiến độ và trách nhiệm thực hiện, bảo đảm các biện pháp hỗ trợ cần thiết được triển khai trước khi hoạt động của dự án làm gián đoạn sinh kế.

Đồng thời, giao Chính phủ quy định rõ trách nhiệm đóng góp kinh phí của chủ dự án tương ứng với tác động do dự án gây ra. Đề án hỗ trợ chuyển đổi sinh kế phải hướng đến việc làm và thu nhập thực tế. Người dân cần biết sau khi thay đổi hoạt động sản xuất, họ có thể làm gì, được hỗ trợ như thế nào và cơ quan nào chịu trách nhiệm theo dõi.

HOÀNG CHUNG

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/giu-vung-yeu-to-quoc-phong-an-ninh-va-bao-ve-chu-quyen-quoc-gia-tren-bien-1063557