Hoàn thiện 2 dự án luật, cải cách quản lý môi trường, khai thác hiệu quả tài nguyên biển

Giải trình, làm rõ ý kiến đại biểu Quốc hội về hai dự án luật, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh về cải cách thủ tục hành chính gắn với kiểm soát chặt chẽ nguy cơ ô nhiễm môi trường; đổi mới quản trị biển theo hướng tổng hợp, thống nhất, hiện đại, khai thác hiệu quả tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng giải trình, làm rõ ý kiến đại biểu Quốc hội về hai dự án luật - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng giải trình, làm rõ ý kiến đại biểu Quốc hội về hai dự án luật - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Chiều 6/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

Phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu về hai dự án luật, thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng trân trọng cảm ơn các vị đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan thẩm tra và các cơ quan của Quốc hội đã dành thời gian nghiên cứu, đóng góp nhiều ý kiến đối với hai dự thảo luật.

Qua thảo luận tại tổ và hội trường, thay mặt Chính phủ và cơ quan chủ trì soạn thảo, Phó Thủ tướng cho biết sẽ tiếp thu các ý kiến xác đáng của đại biểu để tiếp tục hoàn thiện các dự án luật trước khi trình Quốc hội thông qua.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã báo cáo, làm rõ thêm các nhóm vấn đề lớn mà đại biểu Quốc hội quan tâm.

Luật Bảo vệ môi trường: Cải cách thủ tục gắn với kiểm soát chặt nguy cơ ô nhiễm

Đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, theo Phó Thủ tướng, nhiều đại biểu Quốc hội đề cập yêu cầu chuyển đổi mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm nhưng không buông lỏng quản lý môi trường; làm rõ các yếu tố nhạy cảm về môi trường; bảo đảm phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực và năng lực thực thi.

Tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, Chính phủ xác định cải cách thủ tục hành chính phải gắn với đổi mới thực chất phương thức quản lý, không chỉ đơn thuần là cắt giảm thủ tục hoặc chuyển trách nhiệm từ cơ quan nhà nước sang doanh nghiệp. Dự thảo luật đã được chỉnh lý theo hướng quy định cụ thể tiêu chí phân loại dự án theo mức độ rủi ro về môi trường, làm cơ sở áp dụng thủ tục phù hợp; bảo đảm cắt giảm thủ tục nhưng không giảm yêu cầu kiểm soát đối với các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm cao.

Dự thảo luật tiếp tục quy định các yếu tố nhạy cảm về môi trường liên quan trực tiếp đến sức khỏe người dân; bổ sung cơ chế giám sát nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường dựa trên thông tin, dữ liệu môi trường và công nghệ số, kết hợp kiểm tra thực tế để kịp thời phát hiện, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm và xử lý vi phạm.

Đối với quản lý chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn, dự thảo luật ưu tiên giảm phát sinh, tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn. Các quy định đã được hoàn thiện nhằm chuyển từ tư duy quản lý chất thải sang coi chất thải là tài nguyên; thống nhất nguyên tắc phân loại chất thải rắn sinh hoạt.

Chính phủ sẽ ban hành nghị định quy định rõ lộ trình phân loại theo từng khu vực; làm rõ trách nhiệm của từng địa phương trong tổ chức hạ tầng thu gom, vận chuyển, xử lý riêng đối với từng loại chất thải sau phân loại; bổ sung quy định kiểm soát rác thải từ lưu vực sông, đất liền ra biển theo ý kiến của nhiều đại biểu. Dự thảo luật cũng quy định rõ về chất thải, phế liệu và vật liệu tái chế, tạo điều kiện đưa chất thải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật trở lại làm nguyên liệu sản xuất; ưu tiên tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng.

Về phân định thẩm quyền quản lý, giải quyết thủ tục hành chính gắn với phạm vi, mức độ tác động liên tỉnh, liên vùng và vai trò điều phối của cơ quan trung ương, dự thảo luật đã được rà soát, làm rõ cơ chế phối hợp giữa các địa phương trong quá trình thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường đối với các dự án có phạm vi liên tỉnh. Đồng thời, dự thảo xác định rõ vai trò điều phối quản lý của các cơ quan thông qua quy hoạch, kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước, không khí, bảo đảm hài hòa lợi ích phát triển kinh tế giữa các địa phương và kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải lớn có tính chất liên vùng.

Về cơ chế bảo đảm tính độc lập, khách quan và độ chính xác của số liệu, dữ liệu quan trắc môi trường, tiếp thu ý kiến đại biểu, dự thảo luật tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định nghiêm cấm hành vi can thiệp làm sai lệch thông tin, dữ liệu môi trường hoặc cố ý ngắt kết nối dữ liệu. Dự thảo quy định rõ trách nhiệm trực tiếp của chủ dự án, cơ sở trong việc bảo đảm tính chính xác, toàn vẹn, liên tục và khả năng truy xuất dữ liệu; yêu cầu các tổ chức cung cấp dịch vụ quan trắc đáp ứng tiêu chuẩn, năng lực phù hợp; xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu môi trường quốc gia thống nhất, liên thông; tăng cường hậu kiểm, xử lý nghiêm hành vi làm sai lệch số liệu, đồng thời tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát.

Đối với ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý phát thải khí nhà kính và phát triển thị trường carbon, dự thảo luật đã được rà soát, hoàn thiện theo hướng thống nhất phương pháp, quy trình, tần suất kiểm kê khí nhà kính phù hợp nhằm giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Đồng thời, dự thảo bổ sung quy định làm rõ quyền hưởng lợi và cơ chế chia sẻ lợi ích giữa các chủ thể, cộng đồng trực tiếp tham gia bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn hệ sinh thái và giảm phát thải.

Đối với trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon, dự thảo luật quy định cụ thể nguyên tắc, đối tượng, điều kiện trao đổi, tỉ lệ chuyển giao và lượng tín chỉ tối thiểu phải giữ lại để thực hiện mục tiêu đóng góp do quốc gia tự quyết định; đồng thời hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm ngăn ngừa việc tính trùng, bảo đảm tính toàn vẹn của môi trường.

Quản lý, khai thác hiệu quả tài nguyên biển gắn với bảo vệ chủ quyền và môi trường

Đối với dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, theo Phó Thủ tướng, nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị xem xét thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, rà soát để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, dự thảo luật đã được rà soát, thể chế hóa kịp thời các quan điểm tại Nghị quyết 20 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đổi mới quản trị biển theo hướng tổng hợp, thống nhất, hiện đại, khơi thông nguồn lực phát triển gắn với bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia.

Dự thảo tập trung vào quản lý, điều phối, phân định trách nhiệm và phối hợp liên ngành trong sử dụng tài nguyên, không gian biển. Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo rà soát để bảo đảm thống nhất với các luật liên quan, đồng thời phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Về quản lý tổng hợp quy hoạch và cơ chế điều phối sử dụng không gian biển, tiếp thu ý kiến đại biểu, Chính phủ đã chỉ đạo hoàn thiện cơ chế quản lý tổng hợp theo hướng rõ đầu mối, rõ trách nhiệm và thẩm quyền quyết định; lấy Quy hoạch không gian biển quốc gia làm công cụ quản lý và điều phối phát triển. Việc phân cấp, phân quyền phải gắn với nguồn lực, năng lực thực hiện và công tác kiểm tra, giám sát; không để cơ chế phối hợp liên ngành làm phân tán trách nhiệm.

Đối với việc giao, cho thuê, đăng ký và đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, theo Phó Thủ tướng, các quy định trong dự thảo luật được thiết kế phù hợp với đặc điểm của từng vùng biển, thể hiện rõ mục tiêu bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia.

Quyền sử dụng được xác định theo phạm vi, thời hạn, mục đích, điều kiện cụ thể và có tính đến độ sâu, độ cao; việc sử dụng chung, đa mục đích phải bảo đảm an toàn, bảo vệ môi trường và quyền của các chủ thể. Đấu giá phải công khai, cạnh tranh thực chất, lựa chọn nhà đầu tư có năng lực, kinh nghiệm, xác định rõ nghĩa vụ tài chính, nhất là đối với dự án sử dụng cả đất và biển, tránh trùng lặp thủ tục theo ý kiến đại biểu.

Về quyền tài sản, giao dịch, chế độ tài chính, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và bảo đảm quyền lợi của người dân, tiếp thu ý kiến đại biểu, Chính phủ chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện các quy định về quyền chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp phù hợp với hình thức sử dụng và điều kiện của từng đối tượng.

Đối với việc thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, các quy định đã làm rõ căn cứ thu hồi nhằm bảo đảm quyền lợi của người sử dụng biển; xác định cụ thể quyền sử dụng, nghĩa vụ thực hiện, tài sản và chi phí hợp pháp.

Về phát triển kinh tế biển, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, tiếp thu ý kiến đại biểu, dự thảo luật xác định chính sách ưu đãi, hỗ trợ có trọng tâm, rõ đối tượng, điều kiện, thời hạn, kết quả và cơ chế giám sát, phù hợp với nguồn lực, tránh trùng lặp. Việc thử nghiệm mô hình, công nghệ mới cần xác định rõ phạm vi, thời gian, tiêu chí đánh giá, điều kiện dừng và trách nhiệm ứng phó, khắc phục, bồi thường.

Hệ thống dữ liệu biển phải thống nhất, kết nối, chia sẻ, giảm trùng lặp và hạn chế yêu cầu cung cấp lại thông tin đã có; đồng thời bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bí mật nhà nước và quyền tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật.

Đối với quản lý vùng bờ và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, theo Phó Thủ tướng, quan điểm của Chính phủ là phát triển phải phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường, gắn với bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái, hài hòa giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế.

Về chuyển tiếp và điều kiện thi hành luật, dự thảo thiết lập các quy định chuyển tiếp nhằm bảo đảm quản lý liên tục, kế thừa hồ sơ, kết quả giải quyết, không làm gián đoạn hoạt động của người dân, doanh nghiệp. Đối với các cá nhân đang nuôi trồng thủy sản nhưng chưa được giao khu vực biển, việc giải quyết yêu cầu phải gắn với hiện trạng, phương án sắp xếp, nghĩa vụ tài chính và hỗ trợ sinh kế. Các mốc hiệu lực, lộ trình áp dụng phải đồng bộ với pháp luật liên quan và điều kiện thực tế; bảo đảm có đủ hướng dẫn, nguồn lực và dữ liệu để triển khai thống nhất, hiệu quả.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho biết, ngay sau phiên thảo luận chiều 6/11, Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tiếp thu các ý kiến góp ý, khẩn trương hoàn thiện các dự thảo luật với chất lượng cao nhất để trình Quốc hội xem xét, thông qua.

Bên cạnh đó, Chính phủ chuẩn bị đồng bộ hệ thống nghị định, văn bản hướng dẫn thi hành; bảo đảm các quy định chuyển tiếp không làm gián đoạn hoạt động hợp pháp của tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân; tổ chức tập huấn, hướng dẫn cho địa phương, nhất là ở cấp xã, để kịp thời triển khai thực hiện luật ngay sau khi có hiệu lực.

Gia Huy

Nguồn Chính Phủ: https://baochinhphu.vn/hoan-thien-2-du-an-luat-cai-cach-quan-ly-moi-truong-khai-thac-hieu-qua-tai-nguyen-bien-102261106175308391.htm