Đề nghị thống nhất cơ chế lựa chọn nhà đầu tư đối với dự án sử dụng cả đất và khu vực biển
Chiều 6-11, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu thảo luận ở hội trường về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

Các đại biểu Quốc hội thảo luận tại hội trường chiều 6-11. Ảnh: quochoi.vn
Tháo gỡ vướng mắc trong lựa chọn nhà đầu tư dự án sử dụng đất và biển
Phát biểu thảo luận, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng) đánh giá, cơ quan soạn thảo đã tiếp thu hợp lý nhiều ý kiến, nhất là các nội dung về quản lý không gian biển, quyền sử dụng khu vực biển và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Góp ý khoản 7 Điều 24 về lựa chọn nhà đầu tư, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho biết, thực tiễn phát triển cảng biển, logistics và dịch vụ ven biển cho thấy phần đất và phần biển thường gắn bó chặt chẽ trong cùng một dự án. Doanh nghiệp cần sự thống nhất từ khâu lựa chọn nhà đầu tư đến giao đất, cho thuê đất và xác lập quyền sử dụng khu vực biển.
Nếu mỗi phần phải thực hiện một quy trình lựa chọn riêng, thời gian chuẩn bị dự án có thể kéo dài; thậm chí, nhà đầu tư được lựa chọn đối với phần này nhưng chưa có cơ sở triển khai phần còn lại.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng) phát biểu thảo luận. Ảnh: quochoi.vn
Đại biểu đồng tình với quy định lựa chọn nhà đầu tư thống nhất cho toàn bộ dự án, song đề nghị làm rõ căn cứ áp dụng hai phương án tại điểm a và điểm b khoản 7 Điều 24. Theo đó, điểm a quy định nhà đầu tư được lựa chọn theo pháp luật về đầu tư, đất đai, sau đó được xem xét giao, cho thuê khu vực biển không qua đấu giá. Trong khi đó, điểm b quy định nhà đầu tư trúng đấu giá quyền sử dụng khu vực biển được xem xét giao, cho thuê đất không qua đấu giá, không đấu thầu.
Theo đại biểu, hai phương án cần có tiêu chí phân định ngay trong luật, tránh tình trạng cùng một loại dự án nhưng mỗi địa phương áp dụng một cách khác nhau. Đặc biệt, với những dự án có phần đất ven biển mang giá trị thương mại lớn, cơ chế lựa chọn nhà đầu tư cần phản ánh đầy đủ lợi thế của cả phần đất và phần biển.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị bổ sung nguyên tắc xác định cơ chế lựa chọn căn cứ vào tính chất, mục tiêu và cơ cấu sử dụng đất, biển của dự án; đồng thời làm rõ cơ quan quyết định, trách nhiệm giải trình và việc xác định đầy đủ nghĩa vụ tài chính. Phạm vi, mục đích sử dụng đất và biển phải được xác định trước khi lựa chọn nhà đầu tư; việc điều chỉnh sau đó cần được kiểm soát, tránh mở rộng lợi ích ngoài phạm vi đã công bố cạnh tranh.
Hài hòa lợi ích giữa phát triển và bảo tồn

Đại biểu Lê Hữu Trí (Đoàn Khánh Hòa) phát biểu thảo luận. Ảnh: quochoi.vn
Thảo luận về dự án Luật này, đại biểu Lê Hữu Trí (Đoàn Khánh Hòa) đánh giá, đây là dự án luật có ý nghĩa chiến lược, không chỉ nhằm hoàn thiện thể chế quản lý biển mà còn tạo nền tảng cho phát triển kinh tế biển xanh, bảo vệ chủ quyền, bảo tồn hệ sinh thái và bảo đảm sinh kế lâu dài cho nhân dân.
Đại biểu cho rằng, biển không chỉ là không gian phát triển kinh tế mà còn là không gian sinh tồn của cộng đồng dân cư ven biển. Vì vậy, Luật cần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa khai thác và bảo tồn, giữa lợi ích quốc gia và quyền lợi chính đáng của nhân dân, giữa yêu cầu phát triển trước mắt và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai.
Về cơ chế điều phối và trách nhiệm quản lý không gian biển tại Điều 6 và Điều 7, đại biểu Lê Hữu Trí đồng tình với định hướng Chính phủ thống nhất quản lý, đồng thời thiết lập cơ chế điều phối, phối hợp liên ngành tập trung.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, nếu chỉ quy định chung mà không xác định rõ trách nhiệm quyết định, trách nhiệm giải trình và thời hạn xử lý thì nguy cơ chồng chéo vẫn còn, thậm chí có thể phát sinh thêm một tầng nấc hành chính.
Do đó, đại biểu đề nghị quy định rõ cơ quan đầu mối, thẩm quyền xử lý cuối cùng đối với các vấn đề đa ngành, liên vùng; phân định cụ thể chức năng giữa Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã. Việc phân cấp phải đi đôi với bảo đảm nguồn lực, nhân lực, dữ liệu và cơ chế kiểm tra, giám sát.
Góp ý về quyền tiếp cận biển của người dân tại Điều 9, sự tham gia của cộng đồng tại Điều 10 và quy định về xây dựng, quản lý đảo nhân tạo, công trình trên biển tại Điều 23, đại biểu đánh giá đây là những nội dung cần thiết. Đặc biệt, Điều 52 quy định cấm chiếm dụng, rào chắn, xây dựng công trình trái pháp luật làm mất lối đi, lối tiếp cận biển công cộng.

Các đại biểu Quốc hội thảo luận tại hội trường chiều 6-11. Ảnh: quochoi.vn
Đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc các dự án ven biển, lấn biển, xây dựng công trình trên biển phải xác định rõ lối tiếp cận biển công cộng, bãi tắm công cộng và không gian sinh hoạt truyền thống của cộng đồng. Không được biến quyền tiếp cận biển hợp pháp của người dân thành quyền phụ thuộc vào sự cho phép của nhà đầu tư. Đồng thời, cần quy định cơ chế công khai quy hoạch, tham vấn cộng đồng thực chất và xử lý nghiêm hành vi chiếm dụng không gian biển công cộng.
Về các chính sách ưu đãi, hỗ trợ, huy động nguồn lực xã hội và hỗ trợ cộng đồng dân cư ven biển tại các điều 46, 47, đại biểu Lê Hữu Trí đề nghị các chính sách phải đi vào thực chất, tránh chỉ dừng lại ở những quy định mang tính khuyến khích.
Theo đại biểu, khi một khu vực biển được chuyển đổi mục đích sử dụng để phục vụ dự án kinh tế hoặc hình thành các khu vực an toàn, cần đánh giá đầy đủ tác động đối với người dân, người làm nghề biển, hoạt động nuôi trồng thủy sản và du lịch cộng đồng.
Đại biểu đề nghị quy định cụ thể cơ chế hỗ trợ chuyển đổi nghề, đào tạo kỹ năng, tạo việc làm mới cho các hộ gia đình bị ảnh hưởng sinh kế; đồng thời xây dựng chính sách để cộng đồng dân cư ven biển được tham gia và thụ hưởng lợi ích từ quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
Công khai thông tin khi lựa chọn nhà đầu tư, đấu giá quyền sử dụng khu vực biển

Đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn Lâm Đồng) phát biểu thảo luận. Ảnh: quochoi.vn
Phát biểu thảo luận về dự thảo Luật này, đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn Lâm Đồng) đánh giá cao cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiếp thu nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội, hoàn thiện dự thảo theo hướng quản lý tổng hợp không gian biển, thúc đẩy phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Đối với Điều 23 về đảo nhân tạo và công trình trên biển, đại biểu đồng tình với việc dự thảo bổ sung yêu cầu đánh giá điều kiện tự nhiên, dòng chảy, hệ sinh thái khi xây dựng đảo nhân tạo tại khoản 2; đồng thời dẫn chiếu pháp luật chuyên ngành về quản lý, vận hành, tháo dỡ công trình tại khoản 4.
Tuy nhiên, theo đại biểu, các công trình này có thể làm thay đổi chế độ bồi tụ cát, gây xói lở, bồi lắng và để lại tác động kéo dài. Do đó, cần bổ sung nguyên tắc xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm, giám sát tác động trong suốt vòng đời công trình, xây dựng phương án tháo dỡ, phục hồi môi trường và bảo đảm nguồn lực thực hiện khi công trình chấm dứt hoạt động.
Việc quy định cần đồng bộ với pháp luật về xây dựng, bảo vệ môi trường và đầu tư, tránh phát sinh giấy phép chồng chéo. Theo đại biểu, xác định rõ trách nhiệm ngay từ đầu sẽ hạn chế việc chuyển chi phí khắc phục hậu quả cho Nhà nước và cộng đồng.
Góp ý khoản 6, khoản 7 Điều 24 và Điều 27 về lựa chọn người sử dụng khu vực biển và đấu giá, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo làm rõ cơ chế lựa chọn nhà đầu tư thống nhất đối với dự án đồng thời sử dụng đất và khu vực biển. Điều 27 cũng quy định công khai nhu cầu cạnh tranh, điều kiện đấu giá, phương án sử dụng biển và các trường hợp không tổ chức đấu giá.
Theo đại biểu, cơ chế áp dụng đối với dự án có nhiều mục đích sử dụng biển vẫn cần bảo đảm tính minh bạch, thống nhất. Vì vậy, tại khoản 7 Điều 24 và khoản 5 Điều 27, cần làm rõ yêu cầu công bố đồng thời phạm vi đất, khu vực biển, các tầng không gian sử dụng, thời hạn, điều kiện tài chính và điều kiện môi trường trong hồ sơ lựa chọn nhà đầu tư hoặc đấu giá.
Đối với các phương án có mục đích sử dụng khác nhau, cần quy định tiêu chí kỹ thuật, nguyên tắc quy đổi và giá công khai trước khi tổ chức đấu giá; không điều chỉnh tiêu chí trong quá trình lựa chọn. Qua đó, hạn chế tình trạng một dự án được lựa chọn nhà đầu tư nhiều lần, phòng ngừa việc áp dụng ngoại lệ thiếu kiểm soát, tạo lợi thế không bình đẳng.


