Giữa chiến sự, Iran công khai tham vọng mới trị giá nhiều tỷ đô
Tham vọng mới này đang khiến cả thế giới lo ngại: điều gì sẽ xảy ra nếu một trong những tuyến dầu khí quan trọng nhất hành tinh bị kiểm soát theo cách chưa từng có?

Tàu chở hàng đang neo đậu tại một cảng ở Oman vào đầu tháng 3/2026. Ảnh: Getty Images
Theo CNN, tuần qua, khi một quan chức Iran đưa ra danh sách các yêu cầu nhằm chấm dứt cuộc chiến do Mỹ và Israel khởi phát, ông đã bổ sung một điều khoản chưa từng xuất hiện trước đây: yêu cầu quốc tế công nhận chủ quyền của Iran đối với eo biển Hormuz.
Tuyến đường biển hẹp này – nơi trung chuyển khoảng 1/5 lượng dầu và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) của thế giới – đã nổi lên như “vũ khí” mạnh mẽ nhất của nước Cộng hòa Hồi giáo. Và giờ đây, Tehran đang tìm cách biến nó thành vừa là nguồn thu hàng tỷ USD mỗi năm, vừa là đòn bẩy gây sức ép lên nền kinh tế toàn cầu.
Iran từ lâu đã nhiều lần đe dọa đóng cửa eo biển trong trường hợp bị tấn công, nhưng ít ai nghĩ rằng nước này sẽ thực sự làm vậy – hoặc rằng hành động đó lại có thể gây gián đoạn nghiêm trọng đến dòng chảy thương mại toàn cầu như hiện nay.
"Giữ nền kinh tế toàn cầu làm con tin"
Hoạt động vận tải qua “nút thắt cổ chai” này gần như tê liệt sau các cuộc tấn công của Iran, khiến thị trường năng lượng toàn cầu rơi vào hỗn loạn và buộc nhiều quốc gia, kể cả ngoài khu vực Vịnh Ba Tư, phải triển khai các biện pháp khẩn cấp để đảm bảo nguồn cung nhiên liệu.
“Iran dường như cũng bất ngờ trước mức độ hiệu quả của chiến lược Hormuz – khi họ nhận ra việc ‘giữ nền kinh tế toàn cầu làm con tin’ lại rẻ và dễ đến vậy”, Dina Esfandiary, chuyên gia Trung Đông tại Bloomberg Economics, nhận định. “Một trong những bài học từ cuộc chiến là Iran đã phát hiện ra đòn bẩy mới này – và rất có thể sẽ tiếp tục sử dụng trong tương lai. Việc ‘kiếm tiền’ từ nó là bước tiếp theo".
Washington nhận thức rõ rủi ro này. Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio cảnh báo rằng một trong những thách thức ngay sau chiến tranh sẽ là nỗ lực của Tehran nhằm thiết lập hệ thống thu phí tại eo biển Hormuz.
“Điều này không chỉ là bất hợp pháp, mà còn không thể chấp nhận, gây nguy hiểm cho toàn thế giới. Điều quan trọng là cộng đồng quốc tế phải có kế hoạch đối phó", ông Rubio phát biểu sau cuộc họp G7 tại Pháp.
Các ngoại trưởng G7 cũng nhấn mạnh “sự cần thiết tuyệt đối” phải khôi phục quyền tự do hàng hải an toàn và không thu phí.
Trong bối cảnh tầm quan trọng chiến lược của eo biển ngày càng tăng, ông Mojtaba Khamenei – trong bài phát biểu đầu tiên với tư cách lãnh đạo tối cao mới của Iran – tuyên bố rằng việc tận dụng “đòn bẩy phong tỏa tuyến đường này cần được tiếp tục".
Trước đây, trong các vòng đàm phán với Mỹ, Iran chủ yếu yêu cầu dỡ bỏ trừng phạt và công nhận quyền phát triển hạt nhân dân sự, chứ chưa từng đề cập đến việc kiểm soát eo biển Hormuz.
Giờ đây, Tehran đang phát tín hiệu muốn thể chế hóa lợi thế này. Quốc hội Iran đang xem xét một dự luật buộc các quốc gia sử dụng eo biển phải trả phí, trong khi một cố vấn của lãnh đạo tối cao nói đến việc thiết lập “một chế độ mới cho eo biển Hormuz” sau chiến tranh.
Theo đó, Iran có thể áp đặt các hạn chế hàng hải đối với đối thủ, đồng thời gắn quyền tiếp cận một trong những tuyến vận tải quan trọng nhất thế giới với các tranh chấp địa chính trị của mình.
Tuy nhiên, theo James Kraska, giáo sư luật hàng hải quốc tế tại Đại học Hải chiến Mỹ, việc áp phí như vậy là vi phạm luật quốc tế. Ông nhấn mạnh rằng không có cơ sở pháp lý nào cho phép một quốc gia ven biển thu phí tại một eo biển quốc tế như Hormuz.
Quy định này được nêu trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Dù cả Iran và Mỹ đều không phải là thành viên, nhiều nguyên tắc cốt lõi của công ước vẫn được coi là luật tập quán quốc tế.
Trong lịch sử, rất hiếm tiền lệ một quốc gia thành công trong việc thu phí qua eo biển quốc tế. Vào thế kỷ 19, Đan Mạch từng áp phí tại các eo biển của mình, nhưng sau phản đối của nhiều nước, họ buộc phải ký Công ước Copenhagen năm 1857, xóa bỏ hoàn toàn khoản phí này.
Tham vọng “kiếm tiền” có thể ngang kênh đào Suez
Dù vậy, điều đó không ngăn Iran nghiên cứu cách triển khai hệ thống thu phí và mức lợi nhuận có thể đạt được.
Theo tính toán, nếu kế hoạch thành công, doanh thu từ Hormuz có thể ngang ngửa với Suez Canal của Ai Cập.

Ai Cập thu về từ 700 đến 800 triệu USD mỗi tháng từ kênh đào Suez. Ảnh: Getty Images
Thông thường, khoảng 20 triệu thùng dầu đi qua eo biển mỗi ngày. Nếu mỗi tàu chở dầu siêu lớn (VLCC) bị tính phí khoảng 2 triệu USD, Iran có thể thu về 20 triệu USD mỗi ngày, tương đương 600 triệu USD mỗi tháng chỉ từ dầu mỏ.
Nếu tính thêm LNG, con số này có thể vượt 800 triệu USD/tháng – tương đương 15–20% doanh thu xuất khẩu dầu của Iran trong năm 2024.
Trong khi đó, kênh đào Suez mang lại cho Ai Cập khoảng 700–800 triệu USD mỗi tháng trong điều kiện bình thường.
Theo các chuyên gia, tham vọng này còn xuất phát từ áp lực kinh tế trong nước. Iran là một trong những quốc gia chịu trừng phạt nặng nề nhất thế giới, chỉ sau Nga. Việc thu phí qua Hormuz được xem là một cách “dễ và ít tốn kém” để bù đắp cho việc bị hạn chế tiếp cận thị trường toàn cầu.
Một hệ thống “thu phí ngầm” đang hình thành?
Iran nhiều lần khẳng định eo biển Hormuz vẫn mở, nhưng không phải vô điều kiện. Các tàu “không thù địch” vẫn có thể đi qua, với điều kiện phải phối hợp với phía Iran.
Trong khi đó, dữ liệu theo dõi tàu cho thấy một số tàu chở dầu đang di chuyển gần bờ biển Iran hơn, làm dấy lên nghi vấn về việc đã có các khoản “phí không chính thức” được trả để đảm bảo an toàn.
Theo Lloyd’s List, hơn 20 tàu đã sử dụng một hành lang vận chuyển mới trong eo biển, và ít nhất hai tàu được cho là đã trả phí, trong đó một tàu khoảng 2 triệu USD.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran cũng đã thiết lập hệ thống đăng ký cho các tàu được phép đi qua, trong khi một số chính phủ đang trực tiếp đàm phán với Tehran để đảm bảo tuyến vận chuyển của mình.
“Điều này đang diễn ra. Và tôi nghĩ nó sẽ còn xảy ra thường xuyên hơn nếu không có tiến triển trong đàm phán”, Richard Meade, Tổng biên tập Lloyd’s List, nhận định.











