Gỡ điểm nghẽn chính sách, tiếp sức doanh nghiệp miền núi, biên giới, hải đảo
Các đại biểu Quốc hội đề nghị hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tại miền núi, biên giới, hải đảo theo hướng rõ tiêu chí, phân tầng mức hỗ trợ, bố trí nguồn lực phù hợp, bảo đảm chính sách đến đúng đối tượng và phát huy hiệu quả thực chất.
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, chiều 29.10, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Phân tầng hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp vùng đặc thù
Phát biểu tại hội trường, đại biểu Nguyễn Thanh Cầm, Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp, đánh giá cao việc dự thảo luật đã bổ sung riêng Điều 17 quy định về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số làm chủ; doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, lao động là người khuyết tật và doanh nghiệp hoạt động tại địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành phiên thảo luận
Đây là bước tiến quan trọng, thể hiện sự quan tâm lớn đến những nhóm doanh nghiệp đặc thù, thường gặp nhiều khó khăn hơn trong quá trình thành lập và vận hành, nhưng lại rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững của xã hội.
Qua nghiên cứu, đại biểu Nguyễn Thanh Cầm nhận thấy, mặc dù dự thảo luật đã đưa doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ và doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ vào nhóm được hỗ trợ đặc thù, nhưng về cơ bản, đây là hai nhóm có đặc điểm khác nhau và nhu cầu không hoàn toàn giống nhau.
Doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ cần được tạo điều kiện nâng cao năng lực quản trị, tiếp cận vốn, công nghệ, thị trường và mạng lưới kết nối kinh doanh; trong khi doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ thường có nhu cầu hỗ trợ liên quan đến tuyển dụng, đào tạo, duy trì việc làm, bảo đảm điều kiện làm việc và các chi phí phát sinh gắn với lao động nữ.

Đại biểu Nguyễn Thanh Cầm, đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp phát biểu
Ngoài ra, đại biểu Nguyễn Thanh Cầm cũng nhận thấy, Điều 17 của dự thảo luật hiện đang gộp chung 6 nhóm doanh nghiệp đặc thù vào cùng một nhóm chính sách. Điều này khiến chính sách trở nên dàn trải, có thể không giải quyết đúng, trúng những vấn đề đặc thù của từng nhóm doanh nghiệp, chưa đáp ứng được nguyên tắc hỗ trợ phát triển doanh nghiệp có trọng tâm, phù hợp với đối tượng hỗ trợ và khả năng cân đối nguồn lực.
Qua phân tích, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo luật hóa khung tiêu chí định lượng cơ bản, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí xác định đối tượng thụ hưởng. Bên cạnh đó, cần xây dựng chính sách, cơ chế phù hợp với đặc điểm và nhu cầu khác biệt của doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ và doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ; có quy định về nguyên tắc áp dụng trong trường hợp một doanh nghiệp đồng thời thuộc nhiều nhóm ưu tiên, bảo đảm tính minh bạch, dễ xác định và thuận lợi khi triển khai.
Ghi nhận từ thực tiễn, đại biểu Cil Bri, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng, chỉ rõ các doanh nghiệp tại địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo thường gặp hạn chế về nhân lực, khả năng lập hồ sơ, khả năng đối ứng vốn và việc tiếp cận các dịch vụ tư vấn. Nếu áp dụng cùng điều kiện và tỉ lệ vốn đối ứng như đối với các doanh nghiệp ở địa bàn thuận lợi, nhóm đối tượng cần hỗ trợ nhất sẽ rất khó thụ hưởng chính sách.

Đại biểu Cil Bri, đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng phát biểu
Do đó, đại biểu Cil Bri đề nghị làm rõ ngay trong Điều 17 nguyên tắc phân tầng hỗ trợ theo mức độ khó khăn; giao Chính phủ quy định các tiêu chí minh bạch về mức hỗ trợ và tỉ lệ vốn đối ứng phù hợp, đồng thời thống nhất cách xác định địa bàn với các quy định pháp luật liên quan, nhưng tuyệt đối không bỏ sót các khu vực miền núi, biên giới và hải đảo.
Bên cạnh đó, cần thiết kế cơ chế hướng dẫn, tiếp nhận nhu cầu ở cấp xã và kết nối với cơ quan chuyên môn cấp tỉnh để hỗ trợ về nguồn lực. Đại biểu đồng thời đề nghị rà soát Điều 6 và Điều 26 để có cơ chế ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho các địa phương, dựa trên khả năng cân đối ngân sách và quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Hoàn thiện tiêu chí, bảo đảm chính sách đến đúng đối tượng
Tán thành với việc Điều 17 của dự thảo luật đã quy định nhiều nội dung hỗ trợ cho doanh nghiệp tại các địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo, tuy nhiên, đại biểu Trần Đức Thuận, Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An, đề nghị thiết kế chính sách sát hơn với điều kiện hoạt động và khả năng hấp thụ hỗ trợ của doanh nghiệp.
“Đối với địa bàn miền núi, cần quan tâm chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu đến chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm. Nếu chỉ hỗ trợ phần mềm, đào tạo hoặc quảng bá mà thiếu kết nối vận chuyển, thị trường và doanh nghiệp đầu chuỗi thì hiệu quả sẽ hạn chế”, đại biểu Trần Đức Thuận chỉ rõ.

Đại biểu Trần Đức Thuận, đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An phát biểu
Vì vậy, đại biểu Trần Đức Thuận đề nghị làm rõ tiêu chí xác định doanh nghiệp được hưởng chính sách theo hướng gắn với hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế, việc làm và giá trị tạo ra tại địa bàn; tránh trường hợp chỉ đăng ký trụ sở để hưởng ưu đãi.
Cùng với đó, cần có cơ chế bố trí nguồn lực phù hợp cho các địa phương khó khăn; mức vốn đối ứng của doanh nghiệp phải phù hợp với quy mô và khả năng tài chính.
“Những địa bàn khó khăn nhất cần được hỗ trợ đủ để triển khai chính sách. Phát triển doanh nghiệp tại miền núi, biên giới, hải đảo còn góp phần tạo sinh kế, giữ chân lao động, ổn định dân cư, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Đây là hiệu quả cần được tính đến khi lựa chọn và đánh giá chương trình”, đại biểu Trần Đức Thuận nhấn mạnh.
Từ thực tiễn cộng đồng doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ, đặc biệt tại địa bàn Hòa Bình trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, đại biểu Nguyễn Cao Sơn, Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ, đề nghị nghiên cứu bổ sung vào Điều 17 của dự thảo luật quy định rõ đối tượng là doanh nghiệp hoạt động tại các xã, vùng An toàn khu đã được cấp có thẩm quyền công nhận nhưng còn gặp bất lợi về hạ tầng, kết nối thị trường và khả năng tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ.
Đại biểu Nguyễn Cao Sơn cũng đề nghị phân biệt tiêu chí công nhận An toàn khu với tiêu chí xác định mức độ khó khăn về kinh tế – xã hội, để bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng, đúng nhu cầu, tránh dàn trải. Đặc biệt, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, cần công khai danh mục đối chiếu địa danh, phạm vi được công nhận và đầu mối xác định đối tượng thụ hưởng, giúp doanh nghiệp có căn cứ rõ ràng khi lập kế hoạch đầu tư, sản xuất và sử dụng lao động.

Đại biểu Vương Thị Hương, đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang phát biểu
Quan tâm đến tính thống nhất của chính sách đối với doanh nghiệp do người dân tộc thiểu số làm chủ tại Điều 17 của dự thảo luật, đại biểu Vương Thị Hương, Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang, nhận thấy cơ quan soạn thảo đã tiếp thu, bổ sung doanh nghiệp nhỏ và vừa do người dân tộc thiểu số làm chủ và doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số vào nhóm được ưu tiên hỗ trợ trong dự thảo luật.
Tuy nhiên, để hoàn thiện dự thảo luật, đại biểu Vương Thị Hương đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát, bổ sung đầy đủ hai nhóm đối tượng này trong dự thảo nghị định quy định chi tiết; đồng thời, quy định rõ tiêu chí xác định doanh nghiệp do người dân tộc thiểu số làm chủ, tỉ lệ và thời điểm xác định lao động là người dân tộc thiểu số. Đặc biệt, cần phân biệt rõ tiêu chí về chủ thể doanh nghiệp với tiêu chí về địa bàn hoạt động.
Theo đại biểu, doanh nghiệp do người dân tộc thiểu số làm chủ không nhất thiết phải đặt trụ sở tại khu vực miền núi, biên giới. Nếu đồng nhất hai tiêu chí này, sẽ có nguy cơ bỏ sót chính đối tượng mà luật đã xác định.
