Gỡ điểm nghẽn khoa học, công nghệ để 'thúc' tăng trưởng
Khoa học, công nghệ được đặt ở vị trí trung tâm tăng trưởng, nhưng vẫn tồn tại điểm nghẽn nằm ở cách thực thi và vai trò doanh nghiệp.
Đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
Về định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 – 2030, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nêu rõ: “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Khẩn trương, quyết liệt đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ, các ngành mũi nhọn phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ quốc tế; hoàn thiện cơ chế, chính sách vượt trội, phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo; tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, các ngành mũi nhọn khác, trọng tâm là cơ chế quản lý, cơ chế đầu tư, cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ chiến lược”.

Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Thành phố Hà Nội thăm Gian trưng bày của Petrolimex tại Triển lãm Quốc tế đổi mới sáng tạo Việt Nam (tháng 10/2025). Ảnh: PLX
Không phải ngẫu nhiên mà trong tổng thể định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026–2030, Nghị quyết Đại hội XIV lại đặt vấn đề đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở vị trí trung tâm, quan trọng. Điều đó cho thấy, khoa học, công nghệ không còn được xem như một lĩnh vực cần ưu tiên, mà đã được xác lập là nền tảng và động lực trực tiếp của tăng trưởng, gắn chặt với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Điểm đáng chú ý trong định hướng này không chỉ nằm ở mục tiêu, mà ở cách tiếp cận. Lần đầu tiên, yêu cầu “khẩn trương, quyết liệt” được đặt ra song hành với yêu cầu “hoàn thiện cơ chế, chính sách theo nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ quốc tế”. Điều đó phản ánh một bước chuyển quan trọng: khoa học, công nghệ không thể phát triển trong một không gian khép kín, mà phải vận hành trong môi trường cạnh tranh, minh bạch, nơi giá trị của sáng tạo được đo bằng hiệu quả thực tế, bằng khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Việc nhấn mạnh xây dựng các cơ chế “vượt trội, phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo” cho thấy một cách nhìn ngày càng sát thực tiễn hơn. Lao động khoa học không thể bị ràng buộc bởi những khuôn khổ quản lý mang tính hành chính thuần túy. Sáng tạo đòi hỏi không gian tự do tư duy, đòi hỏi chấp nhận rủi ro, đòi hỏi cơ chế đãi ngộ tương xứng với giá trị tạo ra. Khi những yếu tố này được tháo gỡ, khoa học, công nghệ mới có điều kiện phát triển đúng với bản chất.
Nghị quyết không dừng lại ở việc xác định vai trò của Nhà nước, mà đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của quá trình đổi mới sáng tạo. Việc “khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ chiến lược” là thông điệp rất rõ: khoa học, công nghệ chỉ thực sự trở thành động lực khi đi vào sản xuất, khi tạo ra sản phẩm, khi nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Ở tầng sâu hơn, xác định rõ những “nút thắt, rào cản” cần tháo gỡ, đặc biệt là cơ chế quản lý, cơ chế đầu tư, cơ chế tự chủ cho các đơn vị khoa học, công nghệ, cho thấy sự nhìn nhận thẳng vào thực tế. Đây chính là những điểm nghẽn đã tồn tại trong nhiều năm, làm chậm quá trình chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế. Khi những rào cản này được xử lý một cách dứt điểm, dòng chảy của khoa học, công nghệ sẽ được khơi thông, từ nghiên cứu đến ứng dụng, từ phòng thí nghiệm đến thị trường.
Điểm nghẽn không nằm ở chính sách
Nhìn lại toàn bộ tiến trình phát triển khoa học, công nghệ trong nhiều năm qua, không khó để nhận ra một nghịch lý tồn tại: chủ trương không thiếu, văn bản không ít, chương trình hành động được ban hành với mật độ dày, nhưng kết quả vẫn còn hạn chế. Nói cách khác, chúng ta có nhiều “đầu vào” về chính sách, nhưng “đầu ra” vẫn chưa tạo được dấu ấn rõ rệt.

Petrovietnam ứng dụng sáng tạo những giải pháp về khoa học công nghệ tiên tiến. Ảnh: Du Ca
Ngày 13/1/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã đến dự, chỉ đạo và có bài phát biểu quan trọng tại Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Từ Đại hội IV, khoa học và công nghệ đã được xác định là cuộc cách mạng, và đến nay, là quốc sách hàng đầu. Nhiều Nghị quyết quan trọng như Nghị quyết 20, Nghị quyết 52, Nghị quyết 36 đã được ban hành, mang lại kết quả tích cực, đóng góp vào sự phát triển của đất nước như ngày nay. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng thể, nghiêm túc và khách quan, kết quả thực hiện các Nghị quyết của Trung ương chưa đạt các mục tiêu đề ra, chưa được như mong đợi, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.
Vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, rào cản, nút thắt đang cản trở sự phát triển của khoa học, công nghệ như báo cáo đã nêu từ thể chế, cơ chế, chính sách, luật, đến nguồn lực, phương tiện (các nhà khoa học mất quá nhiều thời gian, khoảng 50% thời gian, công sức dành cho các thủ tục; các đề tài nghiên cứu không có đột phá, không đo đếm được kết quả; nguồn lực dành cho khoa học công nghệ hạn chế, kinh phí dành cho nghiên cứu phát triển của ta chưa đến 0,7% GDP, trong khi mức trung bình các nước phát triển là 2%, có nước 5%; chưa mạnh dạn chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, không thương mại hóa được sản phẩm, nhiều trường hợp làm để tài là hình thức “làm kinh tế biến tướng”...).
Vấn đề nằm sâu hơn, ở cách nhìn và cách làm. Trong một thời gian dài, khoa học, công nghệ chưa thực sự được đặt trong môi trường vận hành của sáng tạo, mà phần nào vẫn bị kéo về quỹ đạo của quản lý hành chính. Ở đó, quy trình được coi trọng hơn kết quả, thủ tục nhiều khi trở thành “cửa ải” bắt buộc phải đi qua, còn hiệu quả cuối cùng lại chưa được xem là tiêu chí quyết định. Một đề tài hoàn thành đúng quy trình vẫn có thể được coi là đạt yêu cầu, dù giá trị ứng dụng hạn chế; một công trình nghiên cứu không tạo ra sản phẩm cụ thể vẫn có thể được nghiệm thu nếu đủ hồ sơ, đủ bước.
Không ít đề tài dừng lại ở báo cáo tổng kết, không đi tiếp được đến khâu ứng dụng; không ít kết quả nghiên cứu không tìm được “đầu ra” trong doanh nghiệp; khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và thị trường vẫn còn xa. Trong khi đó, những lĩnh vực đòi hỏi phải chấp nhận rủi ro, phải đầu tư dài hạn, phải theo đuổi đến cùng - những điều kiện căn bản để hình thành công nghệ lõi - lại chưa có đủ cơ chế để khuyến khích. Khi môi trường vận hành chưa thật sự khơi thông, thì đòi hỏi đột phá dễ trở thành một mong muốn hơn là một khả năng hiện hữu. Chính vì vậy, yêu cầu được đặt ra từ cấp cao nhất không dừng ở việc sửa đổi từng chính sách cụ thể, mà là thay đổi cách tiếp cận.
Phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số diễn ra ngày 12/3, Tổng Bí thư đã chỉ đạo: năm 2026 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, là năm thứ hai thực hiện Nghị quyết 57, yêu cầu đặt ra rất cấp bách, khối lượng công việc lớn, không chỉ nhận diện vấn đề mà phải tháo gỡ điểm nghẽn, tạo ra kết quả cụ thể, đo lường được, đóng góp vào tăng trưởng chung quốc gia.
Phép thử của doanh nghiệp
Theo Kết luận của Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, một trong những chỉ tiêu quan trọng cần đạt được là tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo trong tổng số doanh nghiệp đến năm 2030 đạt hơn 40%.
Đặt trong tổng thể các chỉ tiêu phát triển giai đoạn 2026–2030, mục tiêu đưa tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo lên trên 40% không phải là một con số mang tính kỹ thuật đơn thuần mà phản ánh một yêu cầu mang tính cấu trúc đối với nền kinh tế. Bởi nếu khoa học, công nghệ được xác định là động lực chủ yếu của tăng trưởng, thì chính khu vực doanh nghiệp chứ không phải phòng thí nghiệm hay văn bản chính sách mới là nơi quyết định động lực đó có trở thành hiện thực hay không.
Nói cách khác, chỉ tiêu này đo không phải “mức độ quan tâm” đến khoa học, công nghệ, mà đo mức độ thẩm thấu của khoa học, công nghệ vào đời sống kinh tế.
Ở một nền kinh tế mà phần lớn doanh nghiệp vẫn vận hành theo mô hình gia công, phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu hoặc cạnh tranh bằng chi phí, thì khoa học, công nghệ khó có thể phát huy vai trò dẫn dắt. Ngược lại, khi một tỷ lệ đủ lớn doanh nghiệp chủ động đổi mới, dù là cải tiến quy trình, nâng cấp công nghệ hay phát triển sản phẩm mới thì toàn bộ nền kinh tế sẽ chuyển sang một trạng thái khác, nơi tăng trưởng được tạo ra từ bên trong, thay vì phụ thuộc vào mở rộng nguồn lực bên ngoài.
Vì vậy, con số 40% không chỉ mang ý nghĩa định lượng, mà còn là một “ngưỡng chuyển hóa”. Khi vượt qua ngưỡng đó, đổi mới sáng tạo không còn là hiện tượng cá biệt, mà trở thành xu hướng chủ đạo.
Để đạt được mục tiêu này, vấn đề không nằm ở việc kêu gọi doanh nghiệp đổi mới, mà nằm ở việc tạo ra một môi trường buộc và khuyến khích doanh nghiệp phải đổi mới. Thực tế, đổi mới sáng tạo luôn đi kèm rủi ro: chi phí cao, khả năng thất bại lớn, thời gian thu hồi dài. Nếu không có cơ chế chia sẻ rủi ro, không có chính sách đủ mạnh để bù đắp chi phí ban đầu, thì phần lớn doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ lựa chọn phương án an toàn.
Ở một góc độ khác, chỉ tiêu này cũng phản ánh một sự thay đổi trong cách nhìn về vai trò của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không còn chỉ là nơi thực thi công nghệ, mà trở thành chủ thể của quá trình đổi mới. Khi doanh nghiệp chủ động đầu tư cho nghiên cứu, chủ động tìm kiếm giải pháp công nghệ, chủ động cải tiến sản phẩm, thì khoa học, công nghệ mới thực sự đi vào nền kinh tế.
Mục tiêu hơn 40% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo có ý nghĩa còn lớn hơn nữa khi mục tiêu tăng trưởng hai con số đã được xác lập, khi đó doanh nghiệp đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Theo Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.











