Gỡ điểm nghẽn môi trường Thủ đô: Từ xử lý bị động đến quản trị chủ động Bài 2: Kiểm soát ô nhiễm từ nguồn

Những vấn đề môi trường của Hà Nội nhiều khi bắt đầu từ những nguồn phát sinh ngay trong đời sống: Một công trường xây dựng không che chắn, xe chở vật liệu làm rơi vãi ra đường, bụi từ mặt đường, đốt rác trong khu dân cư hay đốt phụ phẩm nông nghiệp ngoài cánh đồng. Từng nguồn có thể nhỏ, nhưng khi cộng hưởng trong điều kiện thời tiết bất lợi, tác động trở nên đáng kể. Vì vậy, muốn kiểm soát ô nhiễm phải truy tận nơi phát sinh và xác định rõ ai là người chịu trách nhiệm.

Xe tưới nước rửa đường của Công ty TNHH một thành viên Môi trường đô thị Hà Nội góp phần hạn chế bụi mịn gây ô nhiễm không khí. Ảnh: Đức Duy

Xe tưới nước rửa đường của Công ty TNHH một thành viên Môi trường đô thị Hà Nội góp phần hạn chế bụi mịn gây ô nhiễm không khí. Ảnh: Đức Duy

Truy đến cùng nguồn gây ô nhiễm

Một buổi sáng trên đường phố Hà Nội, hàng loạt hoạt động diễn ra đồng thời: Phương tiện giao thông nối đuôi nhau; công trường thi công; xe chở đất, vật liệu xây dựng; các tuyến đường đang sửa chữa; hoạt động vận chuyển hàng hóa... Mỗi hoạt động có thể chỉ tạo ra một lượng phát thải nhất định nhưng môi trường đô thị không cộng trừ theo từng nguồn riêng biệt. Khi nhiều nguồn cùng xuất hiện, đặc biệt trong điều kiện thời tiết bất lợi, tổng tải lượng ô nhiễm có thể tăng lên đáng kể.

Kết quả kiểm kê nguồn phát thải cho thấy, bụi mịn PM2.5 tại thành phố Hà Nội đến từ nhiều nhóm nguồn khác nhau: Bụi thứ cấp, giao thông, xây dựng và bụi đường, đốt ngoài trời, công nghiệp và các nguồn khác. Điều đó cho thấy không có một “thủ phạm duy nhất” gây ô nhiễm không khí. Giao thông là một nguồn lớn, nhưng kiểm soát giao thông phải gắn với lựa chọn phương tiện đi lại thay thế. Xây dựng phát sinh bụi, nhưng kiểm soát phải đi vào từng công trường, từng chuyến xe chở vật liệu, chất thải xây dựng. Đốt rác ngoài trời có thể diễn ra phân tán, nhưng hoàn toàn có thể ngăn chặn nếu trách nhiệm được đưa về đúng địa bàn.

Tại cuộc họp của UBND thành phố Hà Nội ngày 20-8-2026 về công tác vệ sinh môi trường và ô nhiễm không khí, thành phố yêu cầu kiểm soát các nguồn phát thải từ giao thông, xây dựng, phá dỡ, vận chuyển vật liệu, đốt rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp và đốt rác. Đây đều là những nguồn phát sinh có liên hệ trực tiếp với hoạt động hằng ngày.

Từ ngày 1-7-2026, Hà Nội thí điểm vùng phát thải thấp trong khu vực Vành đai 1, trước mắt tại 2 khu vực thuộc phường Hoàn Kiếm. Đây không phải chủ trương cấm ngay toàn bộ phương tiện sử dụng xăng, dầu, mà được thực hiện theo lộ trình, từng nhóm phương tiện, có khung thời gian và phạm vi. Chị Nguyễn Thu Phương, người dân ở phường Hoàn Kiếm, ủng hộ việc xây dựng khu vực phát thải thấp vì cho rằng, khu vực trung tâm cần hướng tới không gian giao thông sạch hơn, văn minh hơn. “Tôi mong muốn thành phố tiếp tục đầu tư, bố trí thêm các trạm trung chuyển để người dân di chuyển dễ dàng hơn, cũng như đặt thêm các điểm sạc xe điện nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của cư dân trên địa bàn”, chị Nguyễn Thu Phương chia sẻ.

Cùng với hạn chế phương tiện phát thải cao là phát triển giao thông công cộng, phương tiện xanh, xe đạp công cộng, điểm sạc, điểm đổi pin và phương tiện kết nối đầu cuối. Trong khu vực vùng phát thải thấp, 100% tuyến xe buýt được tổ chức bằng phương tiện xanh; 45 tuyến xe buýt hoạt động trong khu vực Vành đai 1 được miễn giá vé đến hết tháng 6-2027. GS.TS Hoàng Xuân Cơ, Hội Kinh tế môi trường Việt Nam đánh giá, việc Hà Nội đầu tư phát triển giao thông công cộng, cải thiện chất lượng xe buýt, đưa xe đạp công cộng vào sử dụng và từng bước triển khai vùng phát thải thấp là hướng đi phù hợp. Điều quan trọng là phải thực hiện theo lộ trình hợp lý, tạo điều kiện để người dân thay đổi phương thức đi lại. Đây là vấn đề then chốt. Không thể yêu cầu người dân thay đổi nếu phương án thay thế chưa đủ thuận tiện. Kiểm soát nguồn phát thải phải đi cùng với tạo ra lựa chọn mới. Một chính sách môi trường chỉ thực sự hiệu quả khi người dân có thể thực hiện được trong đời sống hằng ngày.

Với xây dựng, yêu cầu cũng phải cụ thể hơn. Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm đối với chất thải và bụi phát sinh từ dự án. Nhà thầu phải có phương án che chắn, vệ sinh, giảm phát tán bụi. Đơn vị vận chuyển phải bảo đảm không rơi vãi, không đổ trộm. Chính quyền xã, phường phải kiểm tra, xử lý kịp thời. Một công trường không che chắn tốt có thể phát tán bụi ra đường; một xe chở đất không phủ kín có thể biến cả tuyến đường thành nguồn bụi; một điểm tập kết tạm thời không phù hợp có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến khu dân cư.

Tương tự, nguyên tắc phải được áp dụng với việc đốt rác ngoài trời. Sau mỗi vụ thu hoạch, nếu không có phương án thu gom, sử dụng hoặc xử lý phù hợp phụ phẩm nông nghiệp, nguy cơ đốt tự phát có thể tái diễn. Đốt rác trong khu dân cư cũng vậy. Những nguồn này không cần chờ một dự án lớn mới có thể xử lý, mà cần được phát hiện ngay tại cơ sở. Sau khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, thành phố Hà Nội có 126 xã, phường. Đây chính là những “mắt xích” gần nhất với nguồn phát sinh như: Điểm đổ trộm rác, đốt rác hoặc công trường gây bụi. Nếu thông tin không được chuyển đến cơ sở và cơ sở không có công cụ xử lý, việc kiểm soát nguồn chất thải sẽ luôn chậm một bước.

Dữ liệu cần chỉ ra nguồn phát thải

Điểm khác biệt giữa quản lý môi trường theo phương thức cũ và quản trị môi trường hiện đại nằm ở khả năng trả lời câu hỏi: Ô nhiễm đến từ đâu? Thành phố Hà Nội đang xây dựng hệ thống kiểm kê nguồn phát thải, bản đồ phát thải, mô hình lan truyền ô nhiễm và mở rộng mạng lưới quan trắc… Nhưng nhiều thiết bị hơn chưa đồng nghĩa với quản lý tốt hơn. Giá trị của dữ liệu nằm ở chỗ nó phải dẫn tới hành động. Một cảm biến ghi nhận chỉ số bất thường phải giúp xác định khu vực cần kiểm tra. Một bản đồ nguồn thải phải chỉ ra được những điểm cần ưu tiên. Một camera ghi nhận hành vi vi phạm phải dẫn tới việc xác định trách nhiệm và xử lý.

Phó Trưởng phòng Quản lý môi trường (Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội) Lưu Thị Thanh Chi cho rằng, mạng lưới quan trắc không chỉ nhằm thu thập chỉ số chất lượng không khí (AQI), mà phải góp phần số hóa toàn bộ bức tranh môi trường của thành phố. Khi dữ liệu được kết nối theo thời gian thực, cơ quan quản lý có thể từng bước chuyển từ phản ứng sau khi ô nhiễm xảy ra sang chủ động kiểm soát nguồn phát sinh. Theo bà Lưu Thị Thanh Chi, thành phố cũng cần phối hợp với các bộ, ngành để hoàn thiện cơ chế chia sẻ dữ liệu liên tỉnh và làm rõ trách nhiệm của chính quyền cơ sở đối với các nguồn phát thải phân tán.

Yêu cầu là “quyết không để dữ liệu nằm im trên giấy” và dữ liệu phải trả lời được ít nhất 4 câu hỏi: Nguồn ở đâu, diễn biến thế nào, ai phải hành động và hành động đến đâu. Khi một công trường được xác định là nguồn phát sinh bụi, dữ liệu phải kết nối với thông tin về chủ đầu tư, nhà thầu, thời gian thi công. Khi một điểm đổ trộm được phát hiện, dữ liệu cần liên kết với phương tiện, đơn vị vận chuyển và địa bàn. Một khu vực có nguy cơ đốt rác ngoài trời, chính quyền cơ sở phải chủ động kiểm tra trước khi hình thành điểm nóng. Đây là cách biến quản lý môi trường từ “đi tìm sự cố” sang “đi tìm nguồn”. Ô nhiễm cũng không dừng lại ở ranh giới hành chính. Khói bụi có thể di chuyển theo gió; nguồn phát thải từ một địa bàn có thể ảnh hưởng đến khu vực khác; chất thải phát sinh tại nơi này có thể được vận chuyển sang nơi khác. Vì vậy, dữ liệu phải được chia sẻ, trách nhiệm phải được liên kết. Nếu mỗi địa phương chỉ nhìn vào địa bàn của mình, vấn đề môi trường chung rất khó được giải quyết tận gốc.

Kiểm soát ô nhiễm không phải là cuộc chạy đua xem địa phương nào xử lý được nhiều vi phạm hơn; mà đó phải là cuộc chuyển đổi để ngày càng ít vi phạm có cơ hội phát sinh. Cũng vì thế, không nên đánh giá hiệu quả chỉ bằng số đợt ra quân, số biên bản hay số lần phun nước. Điều cần quan tâm là nguồn phát thải có giảm không, vi phạm có tái diễn không, người gây ô nhiễm có bị xác định không và dữ liệu có được cập nhật để ngăn tái phạm không. Khi một xe chở đất làm rơi vãi ra đường được phát hiện và xử lý ngay; một công trường được yêu cầu khắc phục trước khi bụi lan rộng; một địa bàn biết chính xác nguồn phát thải của mình, lúc đó quản lý môi trường mới thực sự tiến thêm một bước.

Tuy nhiên, nhận diện được nguồn mới chỉ là một phần của công tác quản lý môi trường. Thành phố Hà Nội còn phải trả lời một câu hỏi là những kết quả trong thu gom, xử lý và hiện đại hóa dịch vụ môi trường thời gian qua đã thực sự tạo nên một hệ thống bền vững đến đâu?

(Còn nữa)

Nhóm phóng viên

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/go-diem-nghen-moi-truong-thu-do-tu-xu-ly-bi-dong-den-quan-tri-chu-dong-bai-2-kiem-soat-o-nhiem-tu-nguon-1756682.html