Gỡ 'nút thắt' cho nông nghiệp 'khát' vốn xanh
Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi cho biết, hiện vẫn còn nhiều nút thắt trong triển khai tín dụng nông nghiệp số và xanh.
Mỗi ngân hàng có “chuẩn xanh” khác nhau

Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, ông Nguyễn Quang Huy đề xuất cần có cuộc tái cấu trúc toàn diện hệ sinh thái nông nghiệp.
Theo chuyên gia Nguyễn Quang Huy, trở ngại lớn nhất chính là tư duy thẩm định tín dụng truyền thống. Phần lớn tổ chức tín dụng (TCTD) vẫn dựa vào tài sản thế chấp là bất động sản. Trong khi đó, đặc thù của ngành nông nghiệp là nhà xưởng và đất thuê trả tiền hằng năm, loại tài sản mà các ngân hàng thường e ngại so với đất trả tiền một lần cho 30 - 50 năm.
Bên cạnh đó, quy mô tín dụng còn nhỏ lẻ, phân tán. Nông dân, hợp tác xã (HTX) vùng sâu vùng xa, vùng nông thôn vẫn còn “nỗi sợ vô hình” trong chuyển đổi số (ngại công nghệ, ngại thay đổi).
Các chuyên gia cho rằng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu do xung đột địa chính trị, nông nghiệp xanh và nông nghiệp số là yếu tố sống còn để Việt Nam khẳng định vị thế trung tâm cung ứng nông sản bền vững thế giới.
Về mặt chính sách, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh, song việc triển khai tín dụng xanh trong nông nghiệp vẫn thiếu đồng bộ vì mỗi ngân hàng có “chuẩn xanh” khác nhau, gây khó khăn trong tiếp cận vốn của doanh nghiệp.
Đáng chú ý, chuyên gia Nguyễn Quang Huy cho rằng, Việt Nam chưa có hệ sinh thái đồng bộ, còn “chắp vá”. Cụ thể, thiếu dữ liệu chuẩn và tính minh bạch, làm triệt tiêu cơ sở cho tín dụng thông minh; năng lực nội sinh còn yếu khi các doanh nghiệp thiếu chuẩn về môi trường, xã hội, quản trị (ESG), HTX thiếu năng lực quản trị, nông dân thiếu kỹ năng số gây cản trở tiếp cận dòng vốn tín dụng nói chung, tín dụng xanh nói riêng.
Đến cuối năm 2025, tổng dư nợ toàn nền kinh tế đạt trên 18 triệu tỷ đồng, trong đó dư nợ ngành nông nghiệp đạt hơn 4 triệu tỷ đồng. Tuy vậy, tỷ trọng tín dụng xanh còn thấp. Tổng tín dụng xanh năm 2025 là 780.000 - 850.000 tỷ đồng, mảng nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 4 - 5% số đó.
Áp dụng cấp vốn dựa trên dòng tiền và dữ liệu

Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng, Ngân hàng Agribank Nguyễn Quang Ngọc.
Ở góc độ ngân hàng, Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng, Ngân hàng Agribank Nguyễn Quang Ngọc chia sẻ, hiện dư nợ nông nghiệp, nông thôn của Agribank là 1,26 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 64% tổng dư nợ.
“Agribank đang phục vụ khoảng 2,7 triệu khách hàng vay vốn, trong đó trên 90% là khách hàng cá nhân thuộc khu vực nông thôn. Tín dụng xanh đã được triển khai nhưng hiện chưa có cơ chế đủ mạnh để khuyến khích chuyển đổi. Người dân vẫn ưu tiên phương án chi phí thấp, ngắn hạn và các mô hình sản xuất bền vững chưa được nhân rộng”, ông Nguyễn Quang Ngọc cho biết.

Giám đốc Tài chính, CTCP Tập đoàn PAN Nguyễn Anh Tuấn (hình phải).
Từ kinh nghiệm thực tiễn huy động nguồn vốn xanh, Giám đốc Tài chính, Công ty cổ phần CTCP Tập đoàn PAN Nguyễn Anh Tuấn xác nhận điều này “không hề đơn giản”. Bởi lẽ, yêu cầu của TCTD, các tổ chức tài chính trên thị trường “tương đối nhiều” như yêu cầu doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn ESG; định kỳ phải có báo cáo, đánh giá, đo lường tác động của nguồn vốn xanh.
Điều này đòi hỏi doanh nghiệp tiếp nhận nguồn vốn phải có hệ thống quản trị thông tin bài bản, có đủ năng lực để cung cấp dữ liệu đáng tin cậy. Trong khi đó, chi phí tiếp cận nguồn vốn xanh thường đắt hơn vốn thông thường.
Một số chuyên gia cho rằng, tín dụng phải đi trước một bước, định hướng dòng vốn vào các mô hình canh tác mới, thay vì cách truyền thống. Để thúc đẩy tín dụng cho nông nghiệp số và xanh, chuyên gia tài chính Nguyễn Quang Huy đề xuất, cần có cuộc tái cấu trúc toàn diện hệ sinh thái nông nghiệp, chuyển dịch từ việc cấp vốn đơn lẻ sang định hướng dòng vốn theo chuỗi giá trị. Tại đó, mối liên kết giữa Nhà nước - ngân hàng - doanh nghiệp - hợp tác xã - nông dân phải được thắt chặt dựa trên hạ tầng dữ liệu số. Cụ thể, cần triển khai tín dụng thông minh, cấp vốn dựa trên dòng tiền và dữ liệu.
“Dù rất khó khăn song cần phải làm quyết liệt, tránh theo tư duy truyền thống là dựa trên tài sản bảo đảm”, ông Nguyễn Quang Huy đề xuất. Tiếp đến, cần xây dựng hệ sinh thái số, phối hợp tổng thể để xây dựng dữ liệu nông nghiệp, môi trường, truy xuất (big data); thiết lập quỹ chuyển đổi chiến lược: quỹ nông nghiệp xanh và quỹ chuyển đổi số, ủy thác cho các ngân hàng thương mại triển khai nhằm tối ưu nguồn lực.
Bên cạnh đó, cần tái cấu trúc trong sản xuất thông qua tích tụ đất đai, cánh đồng mẫu lớn, qua đó thu hút “đại bàng” trong nông nghiệp. Ngân hàng phải là đối tác của doanh nghiệp, HTX và phải tham gia sâu vào quá trình xây dựng chiến lược kinh doanh, quản trị, xúc tiến thương mại; trở thành nhà cố vấn, đồng hành cùng khách hàng. Đây là một trong những cách tiếp cận tín dụng chủ động, phòng ngừa rủi ro chủ động; đồng thời, cần huy động các nguồn lực quốc tế cùng tham gia cấp tài chính xanh, tín dụng xanh cho nông nghiệp.
Về phía Ngân hàng Nhà nước cần đưa ra các chuẩn mực xanh thống nhất; áp dụng các chính sách ưu đãi về lãi suất, tái cấp vốn và hạn mức tín dụng cho các ngân hàng hoạt động tích cực trong lĩnh vực này. Ngoài ra, theo ông Nguyễn Quang Huy, cần nghiên cứu phát triển hệ thống các quỹ bảo lãnh cho tín dụng xanh cũng như bảo hiểm cho tín dụng xanh, bởi đây là lĩnh vực rất rủi ro với nông nghiệp.

Phó Tổng giám đốc Công ty Bảo hiểm Agribank Lê Đình Huy (hình phải).
Một trong những "điểm nghẽn" lớn nhất được các doanh nghiệp phản ánh, sự phụ thuộc quá mức vào tài sản thế chấp là bất động sản. Theo ông Nguyễn Văn Long, Chủ tịch Hội đồng Quản trị (HĐQT) kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nhật Long, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông nghiệp đa phần là doanh nghiệp sản xuất nhỏ lẻ, manh mún. Khi chuyển sang quy mô công nghiệp, doanh nghiệp phải đối mặt với bài toán pháp lý về đất đai.
Một thực tế hiện nay là phần lớn đất phục vụ sản xuất nông nghiệp được thuê theo hình thức trả tiền hằng năm, thay vì trả tiền một lần. Điều này gây nhiều khó khăn cho các ngân hàng trong quá trình thẩm định. “Với các dự án đầu tư quy mô lớn, lên tới hàng trăm tỷ đồng nhưng triển khai trên quỹ đất thuê trả tiền hằng năm, việc được chấp thuận tín dụng là cực kỳ khó khăn”, ông Nguyễn Văn Long chia sẻ.
Để tháo gỡ điểm nghẽn này, ông Nguyễn Văn Long kiến nghị, các ngân hàng cần mạnh dạn chuyển dịch tư duy từ “cho vay dựa trên tài sản thế chấp” sang “cho vay dựa trên dòng tiền và hiệu quả phương án sản xuất”. Theo đó, khi minh bạch được chuỗi liên kết và ứng dụng công nghệ để truy xuất nguồn gốc thì đây chính là loại tài sản đảm bảo bằng niềm tin cao nhất.
Đồng quan điểm về việc phải cải cách thủ tục cho vay để đẩy nhanh dòng vốn vào ngành nông nghiệp, ông Nguyễn Quang Ngọc cho biết, đơn vị đang tiên phong dẫn dắt dòng vốn xanh với các gói tín dụng ưu đãi quy mô 50.000 tỷ đồng và Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao tại Đồng bằng sông Cửu Long. Agribank hiện chiếm thị phần lớn nhất về tín dụng Tam nông với dư nợ 1,26 triệu tỷ đồng.
Tuy nhiên, để phát triển tài chính toàn diện, theo Agribank, đây không thể là nhiệm vụ riêng của ngành ngân hàng mà cần sự tham gia của cả hệ thống chính trị và doanh nghiệp để người nông dân không còn đứng ngoài thị trường, chủ động với ứng phó với những biến động của thị trường. “Từ câu hỏi làm sao để người dân vay được vốn cần chuyển sang câu hỏi làm sao để người dân sử dụng vốn hiệu quả, thoát nghèo và làm giàu bền vững”, đại diện Agribank nhấn mạnh.
Phó Tổng giám đốc Công ty Bảo hiểm Agribank (ABIC) Lê Đình Huy cho rằng, để thúc đẩy nông nghiệp số và xanh, chính sách tín dụng cần xác định rõ: Bảo hiểm đóng vai trò là "màng lọc" và "bệ đỡ" với các chức năng cụ thể. Đối với hộ nông dân, bảo hiểm là “phao cứu sinh” giúp họ tránh bẫy nợ nần sau thiên tai, dịch bệnh. Đối với ngân hàng, hợp đồng bảo hiểm có thể được xem như một hình thức “tài sản thế chấp bằng niềm tin”, giúp ngân hàng yên tâm giải ngân ngay cả khi người dân thiếu tài sản thế chấp truyền thống.
Quan trọng hơn, việc tham gia bảo hiểm buộc người sản xuất phải tuân thủ các quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt, tạo tiền đề cho sản xuất xanh, sạch và bền vững. Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm nông nghiệp hiện nay vẫn còn hạn chế. Ông Lê Đình Huy đề xuất, Việt Nam cần có hướng dẫn rõ ràng hơn về Luật Các tổ chức tín dụng 2024, không nên cấm đoán cứng nhắc mà cần khuyến khích tích hợp bảo hiểm vào gói tín dụng như một điều kiện kỹ thuật an toàn vốn.
Phó Tổng giám đốc ABIC kiến nghị Nhà nước hỗ trợ 70 - 80% phí bảo hiểm trong 5 năm đầu để xây dựng thói quen cho người dân. Đồng tình quan điểm này, theo ông Nguyễn Quang Ngọc, lĩnh vực nông nghiệp tiềm ẩn nhiều rủi ro, nếu không được bảo hiểm, rủi ro sẽ đẩy về phía doanh nghiệp lẫn ngân hàng. Do đó, cần phát triển thói quen và nhu cầu mua bảo hiểm đối với tài sản nông nghiệp.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định: “Hoàn thiện thể chế phát triển, khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực là một trong những đột phá chiến lược, tạo động lực cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới”.
Trong tổng thể đó, nông nghiệp, nông dân, nông thôn tiếp tục được xác định là trụ đỡ của nền kinh tế; đồng thời, chuyển đổi sang nông nghiệp số, nông nghiệp xanh là yêu cầu tất yếu để nâng cao giá trị gia tăng, bảo đảm phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.











