Gỡ 'nút thắt' dữ liệu để nông sản bứt phá

Chuyển đổi số gắn chuyển đổi xanh trở thành yêu cầu bắt buộc, giúp nông nghiệp nâng năng suất, minh bạch nguồn gốc, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường và tăng giá trị nông sản.

Nông nghiệp Việt vào cuộc đua số hóa và giảm phát thải

Nông nghiệp Việt vào cuộc đua số hóa và giảm phát thải

Doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi giá trị

Biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, yêu cầu giảm phát thải, cùng với hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật và rào cản thương mại ngày càng khắt khe đang tạo sức ép lớn lên sản xuất nông nghiệp. Trong bối cảnh đó, ngành nông nghiệp Việt Nam không còn nhiều lựa chọn ngoài việc thay đổi phương thức phát triển theo hướng hiện đại, minh bạch và bền vững hơn.

Ông Hồ Xuân Hùng, Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cho biết, xu hướng tiêu dùng xanh, minh bạch thông tin và truy xuất nguồn gốc đang trở thành yêu cầu bắt buộc tại cả thị trường trong nước lẫn quốc tế. Người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến giá thành mà còn đòi hỏi sản phẩm phải “sạch” từ quy trình sản xuất đến môi trường.

Theo ông Hùng, trong bối cảnh đó, chuyển đổi số gắn với chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn mang tính thử nghiệm, mà là con đường tất yếu để nâng cao năng suất, chất lượng và gia tăng giá trị cho nông sản, thủy sản Việt Nam. Đây chính là chìa khóa để nông nghiệp vượt qua “bẫy” sản xuất nhỏ lẻ, chi phí cao và phụ thuộc thị trường trung gian.

Để hiện thực hóa hai trụ cột quan trọng này, doanh nghiệp được xác định giữ vai trò trung tâm. Không chỉ đơn thuần là đầu ra tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp còn đóng vai trò dẫn dắt thị trường, đầu tư công nghệ, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, kết nối nông dân và hợp tác xã. Thông qua các chuỗi liên kết, doanh nghiệp giúp chuẩn hóa quy trình, nâng cao chất lượng, từ đó từng bước đưa nông sản Việt tham gia sâu hơn vào các thị trường cao cấp.

Cùng quan điểm, ông Thái Như Hiệp, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam, cho rằng quá trình chuyển đổi chỉ bền vững khi xuất phát từ nhu cầu và lợi ích thiết thực của người nông dân, thay vì những yêu cầu mang tính phong trào.

Theo ông Hiệp, doanh nghiệp cần đóng vai trò “cầu nối”, chuyển hóa các tiêu chuẩn quốc tế thành giải pháp cụ thể, dễ áp dụng trong thực tế như tưới nước tiết kiệm, ghi chép nhật ký đồng ruộng, truy xuất nguồn gốc hay canh tác bền vững. Khi người dân thấy rõ chi phí giảm, năng suất tăng và đầu ra ổn định, họ sẽ chủ động tham gia thay đổi.

“Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh chỉ thực sự đi vào chiều sâu khi doanh nghiệp đứng ra tổ chức chuỗi liên kết, chia sẻ rủi ro và bảo đảm bao tiêu sản phẩm. Khi người nông dân được đặt ở vị trí trung tâm, quá trình chuyển đổi mới có thể diễn ra thực chất và lâu dài”, ông Hiệp chia sẻ.

Ở góc độ thực tiễn sản xuất, đại diện Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Dịch vụ Sài Gòn Kim Hồng cho rằng, cơ giới hóa đồng bộ đang trở thành giải pháp then chốt để nâng cao hiệu quả và giảm tác động môi trường.

Việc ứng dụng máy sạ cụm, máy gặt tuốt liên hợp không chỉ giúp giảm lượng giống gieo trồng, tiết kiệm chi phí đầu vào mà còn hạn chế sâu bệnh, giảm thất thoát sau thu hoạch, nâng cao chất lượng nông sản. Quan trọng hơn, cơ giới hóa tạo nền tảng cho quản lý sản xuất hiện đại, minh bạch dữ liệu, từng bước đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số.

Từ thực tế triển khai, doanh nghiệp kiến nghị Nhà nước cần sớm có chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đào tạo kỹ thuật vận hành máy móc cho nông dân và hợp tác xã, đồng thời lồng ghép cơ giới hóa vào các chương trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi số. Đây được xem là “đòn bẩy” giúp tăng năng suất, giảm phát thải và thúc đẩy sản xuất bền vững.

Tháo “nút thắt” dữ liệu

Dù nhận thức về chuyển đổi số đã có nhiều chuyển biến tích cực, song thực tế triển khai vẫn còn không ít rào cản. Bà Trần Thị Hồng Lan, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Tổng hội cho biết, cả nước hiện có hơn 20.000 hợp tác xã nông nghiệp, nhưng chỉ khoảng 2.000 đơn vị ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, quản lý và tiêu thụ sản phẩm. Tỷ lệ hợp tác xã sử dụng phần mềm hoặc các giải pháp số mới đạt khoảng 10–12%, cho thấy dư địa chuyển đổi còn rất lớn.

Không chỉ khu vực hợp tác xã, khối doanh nghiệp cũng gặp khó khăn tương tự. Hơn 90% doanh nghiệp nông nghiệp là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạn chế về vốn, nhân lực công nghệ và năng lực quản trị số. Vì vậy, đầu tư cho hạ tầng dữ liệu, phần mềm quản lý hay tự động hóa vẫn còn dè dặt.

Theo bà Lan, phần lớn mô hình hiện nay mới dừng ở mức số hóa quản trị nội bộ hoặc truy xuất nguồn gốc đơn lẻ từng khâu. Việc thiếu chuẩn dữ liệu thống nhất và nền tảng dùng chung khiến các giải pháp khó kết nối giữa sản xuất, chế biến, phân phối và tiêu thụ.

Hệ quả là hiệu quả kinh tế chưa đủ rõ ràng, chưa tạo động lực để hợp tác xã và doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư dài hạn. “Nếu không có cơ chế hỗ trợ về vốn, đào tạo và tư vấn kỹ thuật, rất khó để khu vực kinh tế tập thể và doanh nghiệp nhỏ tự bứt phá”, bà Lan nhấn mạnh.

Từ thực tế này, bà Lan kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm hoàn thiện và triển khai thống nhất các nền tảng số dùng chung trên phạm vi toàn ngành, tạo sự liên thông dữ liệu xuyên suốt chuỗi giá trị.

Theo bà Lan, trọng tâm là hệ thống truy xuất nguồn gốc, quản lý mã số vùng trồng – vùng nuôi, đồng thời kết nối dữ liệu sản xuất với yêu cầu thị trường và tiêu chuẩn xuất khẩu. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao tính minh bạch, đáp ứng quy định quốc tế và gia tăng sức cạnh tranh cho nông sản Việt Nam.

Song song đó, Bộ Khoa học và Công nghệ cần tăng cường hỗ trợ theo hướng chuẩn hóa dữ liệu đầu vào, phát triển nền tảng mở, thân thiện, dễ tiếp cận với doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã. Đồng thời, xây dựng cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cho các tổ chức xã hội – nghề nghiệp tham gia chuyển giao công nghệ, nhân rộng mô hình hiệu quả.

Theo các chuyên gia, khi hạ tầng số được đồng bộ, dữ liệu được chuẩn hóa và chuỗi liên kết được tổ chức bài bản, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh sẽ không còn là khẩu hiệu, mà trở thành động lực thực sự thúc đẩy nông nghiệp Việt Nam phát triển hiện đại, minh bạch và bền vững hơn.

Hải Yến

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/go-nut-that-du-lieu-de-nong-san-but-pha-177645.html