Gỡ rào cản để nhà khoa học nữ đưa nghiên cứu ra thị trường
Mặc dù phụ nữ chiếm gần 50% lực lượng nghiên cứu và phát triển của Việt Nam, song nhiều kết quả nghiên cứu do phụ nữ dẫn dắt vẫn gặp khó khăn trong quá trình thương mại hóa. Điều này đòi hỏi cần tháo gỡ rào cản để giúp các nhà khoa học nữ đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, đóng góp cho đổi mới sáng tạo, cũng như tạo ra giá trị kinh tế và xã hội cho đất nước.

Quang cảnh Hội thảo quốc tế “Nữ khoa học hướng tới thị trường: Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học trong nền kinh tế xanh và kinh tế số”. Ảnh:T.Minh
Nhiều rào cản hạn chế thương mại hóa nghiên cứu khoa học
Ngày 10/6, Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) tại Việt Nam phối hợp với Hội Nữ trí thức Việt Nam tổ chức Hội thảo quốc tế “Nữ khoa học hướng tới thị trường: Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học trong nền kinh tế xanh và kinh tế số”.
Phát biểu tại Hội thảo, GS,TS. Lê Thị Hợp - Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam cho biết, các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, với Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia,cùng Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã khẳng định đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là những động lực then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng và đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Đồng thời, nền kinh tế xanh và kinh tế số đang tạo ra những cơ hội phát triển to lớn đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Trong tiến trình đó, đội ngũ nữ khoa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Với gần một nửa lực lượng nghiên cứu và phát triển của cả nước, các nhà khoa học nữ không chỉ góp phần tạo ra tri thức mới mà còn đóng góp tích cực vào việc giải quyết các thách thức về môi trường, xã hội và phát triển bền vững.
Đồng quan điểm trên, TSKH. Phan Xuân Dũng - Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cũng nhấn mạnh, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi cơ cấu mang tính quyết định, trong đó xác định rõ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh chính là những động lực trung tâm để đưa quốc gia phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế.
Trong hành trình chuyển dịch đó, nguồn lực trí tuệ là yếu tố cốt lõi, trong đó không thể không nhắc đến lực lượng các nữ khoa học. Với sự thông minh, chăm chỉ, kiên trì, lòng say mê và cả những hy sinh thầm lặng, các nhà khoa học nữ đã và đang đóng góp những công trình nghiên cứu có giá trị cao cho xã hội.
Tuy nhiên, theo ông Dũng, tiềm năng của các nhà khoa học nữ vẫn chưa được khai thác đầy đủ. Các nhà khoa học nữ vẫn đang phải đối mặt với nhiều rào cản mang tính hệ thống. Cụ thể, trong thương mại hóa, khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường còn rất xa do thiếu cơ chế kết nối. Trong tiếp cận nguồn lực, việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ tài chính, các quỹ đầu tư và cơ chế hỗ trợ chuyên biệt còn nhiều hạn chế. Trong cuộc sống, định kiến giới và gánh nặng công việc chăm sóc gia đình vô hình đã tạo ra những áp lực kép, hạn chế cơ hội bứt phá của các nữ khoa học.
Chia sẻ thêm, GS,TS. Lê Thị Hợp cũng nhấn mạnh hiện nay hành trình đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm đến thị trường vẫn còn nhiều rào cản. Nhiều công trình có giá trị chưa được thương mại hóa hiệu quả do thiếu nguồn lực tài chính, mạng lưới kết nối, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, bảo hộ sở hữu trí tuệ và cơ hội tiếp cận thị trường.
Theo một số nghiên cứu, mặc dù phụ nữ chiếm 46% lực lượng nghiên cứu và phát triển của Việt Nam, nhiều kết quả nghiên cứu do phụ nữ dẫn dắt vẫn gặp khó khăn trong quá trình thương mại hóa. Tỷ lệ phụ nữ làm chủ nhiệm các nhiệm vụ khoa học và công nghệ chỉ đạt 25,5%, trong khi tỷ lệ phụ nữ được cấp bằng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và giống cây trồng chỉ dao động từ 13 - 20%.

Nhiều nhà khoa học nữ vẫn còn gặp khó khăn trong việc đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Ảnh minh họa: S.T
Xây dựng hệ sinh thái để rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu với thị trường
Trao đổi tại Hội thảo, các đại biểu cho biết, trên thế giới, khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa thường được gọi là “Thung lũng chết” - giai đoạn mà nhiều sáng kiến đầy tiềm năng không thể phát triển thành sản phẩm hoặc giải pháp thương mại. Đối với các nhà khoa học nữ, khoảng cách này thường rộng hơn do các rào cản giới trong tiếp cận tài chính, cơ hội lãnh đạo, mạng lưới nghề nghiệp và gánh nặng công việc chăm sóc không được trả công.
Các đại biểu khẳng định rằng việc hỗ trợ các nhà khoa học nữ tiếp cận thị trường không chỉ là vấn đề bình đẳng giới mà còn là yêu cầu cấp thiết để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo, đây không chỉ là thách thức đối với các nhà khoa học nữ mà còn là vấn đề liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh và triển vọng phát triển của quốc gia.
Các kinh nghiệm quốc tế được chia sẻ tại Hội thảo từ Canada, Phần Lan, Hàn Quốc, Vương quốc Anh, Australia và Colombia cho thấy những hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thành công đều có cơ chế kết nối hiệu quả giữa nhà khoa học, trường đại học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan hoạch định chính sách. Đây cũng là những yếu tố then chốt giúp rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường.
Dựa trên kinh nghiệm quốc tế và những rào cản đang hạn chế khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học nữ tại Việt Nam, TSKH. Phan Xuân Dũng cho rằng, để giải phóng toàn diện sức sáng tạo và đưa sản phẩm của các nhà nữ khoa học ra thị trường, cần một hệ sinh thái tích hợp và có đáp ứng giới.
Hệ sinh thái đó đòi hỏi sự đồng bộ về chính sách, thông qua việc tạo hành lang pháp lý thông thoáng, ưu tiên và khuyến khích các nghiên cứu do phụ nữ chủ trì, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế xanh và kinh tế số.
Cùng với đó là có cơ chế tài chính đột phá, với việc hình thành các quỹ hỗ trợ, thúc đẩy hợp tác công - tư (PPP) để bảo đảm nguồn vốn cho các giai đoạn thử nghiệm và thương mại hóa.
Ngoài ra, cần sự thấu hiểu và sẻ chia như xây dựng các mô hình quan tâm tới “kinh tế chăm sóc”, giúp giảm tải gánh nặng gia đình để các nhà khoa học nữ an tâm cống hiến.
Chia sẻ thêm ý kiến, GS,TS. Lê Thị Hợp cũng nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học, nữ trí thức toàn diện, đáp ứng giới và gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu - đổi mới - doanh nghiệp và thị trường. Đây không chỉ là giải pháp để phát huy tiềm năng của đội ngũ nữ khoa học, mà còn là động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng xanh, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững của đất nước.
Theo bà Hợp, hệ sinh thái đó cần được thiết kế như một chuỗi liên kết thông suốt giữa nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp, nhà đầu tư và thị trường; tạo điều kiện để các kết quả nghiên cứu không chỉ dừng lại ở các công bố khoa học mà có thể chuyển hóa thành sản phẩm, công nghệ, dịch vụ và các mô hình kinh doanh tạo ra giá trị cho xã hội.
“Các nhà khoa học nữ Việt Nam đã chứng minh năng lực, sự sáng tạo và khả năng thích ứng của mình. Điều cần thiết hiện nay là một hệ sinh thái mạnh mẽ hơn để kết nối khoa học với đầu tư, nghiên cứu với doanh nghiệp và đổi mới sáng tạo với thị trường” - bà Hợp nói.
Từ góc nhìn quốc tế, bà Caroline Nyamayemombe - Trưởng đại diện UN Women tại Việt Nam nhấn mạnh: “Bình đẳng giới không chỉ là một yêu cầu về công bằng xã hội mà còn là một yêu cầu về phát triển kinh tế. Hãy cùng chung tay xây dựng một hệ sinh thái nơi không một tài năng nào bị lãng phí, không một sáng kiến nào bị bỏ lại phía sau và mọi nhà khoa học nữ đều có cơ hội đóng góp trọn vẹn cho tương lai xanh và số của Việt Nam”.
Kết thúc Hội thảo, các đại biểu kêu gọi tăng cường đầu tư vào các chương trình hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu do phụ nữ dẫn dắt; mở rộng cơ hội tiếp cận tài chính, cố vấn và kết nối thị trường. Đồng thời, xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn diện và bao trùm hơn, nơi các nhà khoa học nữ có thể phát triển các ý tưởng nghiên cứu thành những giải pháp tạo ra giá trị kinh tế và xã hội cho Việt Nam./.











