Gỡ 'vòng kim cô', mở lối cho trái cây Việt xuất ngoại

Nghị quyết 36 về đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được kỳ vọng tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất, mở đường cho xuất khẩu sầu riêng tăng tốc.

Nghị quyết 36 của Chính phủ được kỳ vọng tháo gỡ nút thắt về thủ tục cấp mã số vùng trồng, tạo thuận lợi cho nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu.

Nghị quyết 36 của Chính phủ được kỳ vọng tháo gỡ nút thắt về thủ tục cấp mã số vùng trồng, tạo thuận lợi cho nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu.

Thống kê của Cục Hải quan Việt Nam, 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sầu riêng đạt gần 1,1 tỷ USD, tăng 31,6% so với cùng kỳ năm ngoái; riêng thị trường Trung Quốc đạt gần 988 triệu USD, tăng 43,1%. Đây tiếp tục là mặt hàng đóng góp quan trọng vào tăng trưởng của ngành rau quả.

Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực, nhiều doanh nghiệp cho rằng nút thắt lớn nhất không nằm ở thị trường mà ở chính khâu cấp và quản lý mã số vùng trồng.

Khơi thông mã số vùng trồng

Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit), nhận định Nghị quyết 36 được ban hành đúng thời điểm và là cuộc cải cách thủ tục hành chính rất mạnh của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Theo ông, thời gian qua, quy trình cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói vẫn là điểm nghẽn lớn nhất đối với doanh nghiệp và hợp tác xã.

Đây chính là chìa khóa tháo gỡ tình trạng ách tắc nguồn nguyên liệu xuất khẩu, đặc biệt trong mùa cao điểm của sầu riêng, thanh long, xoài, nhãn hay chuối”, ông Nguyên nói.

Bà Ngô Tường Vy, Tổng Giám đốc Tập đoàn Xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu, cho rằng chi phí xây dựng mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói lâu nay là một trong những rào cản lớn của ngành sầu riêng.

Trong khi diện tích được cấp mã số vẫn còn thấp so với tổng diện tích canh tác, phần lớn nông dân ở miền Tây lại sản xuất nhỏ lẻ, mỗi hộ chỉ vài nghìn mét vuông. Việc nới điều kiện về diện tích sẽ giúp các địa phương triển khai thuận lợi hơn.

Người trồng sầu riêng được khuyến khích tuân thủ quy trình sản xuất an toàn, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật để giữ vững mã số vùng trồng và uy tín hàng Việt.

Người trồng sầu riêng được khuyến khích tuân thủ quy trình sản xuất an toàn, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật để giữ vững mã số vùng trồng và uy tín hàng Việt.

Tại hội nghị với các hiệp hội ngành hàng về thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản những tháng cuối năm 2026 do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức mới đây tại TP.HCM, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho rằng hồ sơ và thủ tục cấp mã số còn khá phức tạp, trong khi nhiều nông dân chưa được phổ biến đầy đủ nên mất nhiều thời gian thực hiện, nhất là vào mùa vụ.

Không chỉ vậy, thực tế sản xuất cũng còn khoảng cách lớn so với yêu cầu của các nghị định thư xuất khẩu.

Nhiều vùng sầu riêng tại Tây Nguyên vẫn trồng xen với cây công nghiệp, trong khi thị trường nhập khẩu yêu cầu vùng chuyên canh. Một mã số vùng trồng lại có nhiều hộ cùng sử dụng, khiến chất lượng sản phẩm không đồng đều. Chỉ cần một hộ vi phạm về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hoặc quy trình sản xuất, cả vùng trồng có nguy cơ bị ảnh hưởng.

Theo ông Bình, liên kết giữa chủ sở hữu mã số với doanh nghiệp cũng chưa thực sự bền vững. Khi giá cả biến động, tranh chấp dễ phát sinh trong khi chế tài xử lý chưa đủ mạnh. Tình trạng mua bán, giả mạo mã số vùng trồng vẫn diễn ra, tiềm ẩn nguy cơ mất thị trường xuất khẩu.

Doanh nghiệp thu mua sầu riêng tại vùng nguyên liệu có mã số nhằm bảo đảm truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Doanh nghiệp thu mua sầu riêng tại vùng nguyên liệu có mã số nhằm bảo đảm truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Gỡ hàng loạt rào cản

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Điểm đáng chú ý nhất của Nghị quyết 36 là thay đổi tư duy quản lý. Nếu trước đây việc cấp mã số chủ yếu dựa trên tiền kiểm với nhiều thủ tục, thì nay Chính phủ xác định rõ nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự khai, tự chịu trách nhiệm; thực hiện toàn trình trên môi trường mạng; giảm thời gian, giảm chi phí tuân thủ và chuyển mạnh sang hậu kiểm.

Theo Nghị quyết, toàn bộ hồ sơ được nộp qua Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đối với vùng trồng không phục vụ xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu mã số, thời gian cấp chỉ còn không quá 3 ngày làm việc.

Đối với vùng trồng phục vụ xuất khẩu, thời gian giải quyết không quá 10 ngày, do vẫn phải thực hiện kiểm tra để đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu.

Một điểm mới quan trọng khác là mã số vùng trồng được xác định theo mã định danh thửa đất trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Trường hợp chưa có mã định danh, người dân được tự kê khai diện tích, vị trí và chính quyền địa phương sẽ xác nhận trong quá trình kiểm tra hoặc hậu kiểm.

Đặc biệt, Nghị quyết không còn duy trì cách tiếp cận cứng nhắc trước đây đối với quy mô vùng trồng. Ông Đặng Phúc Nguyên cho biết việc bãi bỏ quy định diện tích tối thiểu 10 ha là thay đổi rất lớn, tạo điều kiện để nhiều hộ dân, nhất là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, có cơ hội tiếp cận mã số vùng trồng.

Theo ông, với những mã số phải phía Trung Quốc phê duyệt, Việt Nam vẫn nên ưu tiên gửi các vùng trồng có quy mô lớn từ 5-100 ha để nâng cao hiệu quả và khả năng được phê duyệt nhanh hơn, bởi cơ quan chức năng Trung Quốc phải xử lý hồ sơ của nhiều quốc gia.

Việc này cũng tạo động lực để các hộ nhỏ liên kết thành hợp tác xã hoặc tổ hợp tác thay vì sản xuất manh mún.

Việc cấp mã số vùng trồng theo định danh thửa đất được kỳ vọng giúp quản lý chính xác hơn và rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ.

Việc cấp mã số vùng trồng theo định danh thửa đất được kỳ vọng giúp quản lý chính xác hơn và rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ.

Thực tế, ngay cả khi có mã số vùng trồng, việc kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu vẫn là bài toán khó.

Ông Trịnh Văn Quang, Quản lý thu mua Công ty Xuất nhập khẩu Hoàng Thắng (Đắk Lắk), cho biết người trồng cần tuân thủ nghiêm quy trình sản xuất, không để dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng, đồng thời phối hợp với doanh nghiệp và cơ quan chức năng xây dựng vùng trồng có mã số.

Về phía doanh nghiệp, điều quan trọng nhất là phải kiên quyết không để hàng kém chất lượng trà trộn vào các lô hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi thu mua qua các vựa.

Nếu mua trực tiếp tại vườn thì còn có thể kiểm tra giấy tờ, xác minh mã số vùng trồng. Nhưng nếu mua tại vựa thì gần như không có cách nào kiểm chứng chính xác nguồn gốc”, ông Quang nói.

Ở góc độ doanh nghiệp xuất khẩu, ông Phan Nhật Tâm, Giám đốc Công ty Khởi Phong, cho biết đơn vị đã xây dựng quy trình lưu trữ dữ liệu riêng cho từng lô hàng, phối hợp với bộ phận chuyên môn để kiểm tra trước khi thông quan. Dẫu vậy, việc xác minh nguồn gốc từ các đơn vị cung ứng vẫn rất khó.

Có trường hợp người bán khai báo sầu riêng được thu mua tại Bình Phước cũ nhưng thực tế lại lấy hàng từ Lâm Đồng, Đồng Nai hoặc các tỉnh miền Tây. Nếu hàng hóa không đúng mã số vùng trồng đã đăng ký, doanh nghiệp có nguy cơ bị trả hàng, tiêu hủy hoặc bị hủy mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu.

Mỗi lô sầu riêng xuất khẩu đều phải gắn với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói để phục vụ truy xuất nguồn gốc.

Mỗi lô sầu riêng xuất khẩu đều phải gắn với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói để phục vụ truy xuất nguồn gốc.

Theo ông Đặng Phúc Nguyên, việc phân cấp thẩm quyền về cấp xã sẽ giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, nhưng cũng đặt ra yêu cầu rất lớn về năng lực cán bộ.

Cán bộ cấp xã hiện phải kiêm nhiệm nhiều công việc, trong khi việc đánh giá vùng trồng liên quan đến chuyên môn về bảo vệ thực vật, sinh vật gây hại và tiêu chuẩn của từng thị trường xuất khẩu. Nếu kiểm tra không đầy đủ, nguy cơ bị nước nhập khẩu cảnh báo hoặc thu hồi mã số là rất lớn.

Ông cũng lưu ý cơ chế “tự khai, tự chịu trách nhiệm” chỉ phát huy hiệu quả khi người dân và doanh nghiệp hiểu rõ quy chuẩn kỹ thuật. Nếu không, hậu kiểm sẽ trở thành rủi ro thay vì động lực cải cách.

Bên cạnh đó, hệ thống Cổng Dịch vụ công quốc gia và phần mềm xử lý nghiệp vụ cần vận hành ổn định, đơn giản, dễ sử dụng để tránh phát sinh thêm khó khăn.

Theo ông Đặng Phúc Nguyên, một bất cập kéo dài là doanh nghiệp và địa phương rất khó tiếp cận để tra cứu, xác minh dữ liệu về mã số vùng trồng. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp mất nhiều thời gian kiểm chứng thông tin trước khi ký hợp đồng thu mua, thậm chí có nguy cơ mua phải nguyên liệu từ những mã số đã bị cảnh báo hoặc thu hồi.

Vì vậy, ông đề xuất mỗi địa phương cần xây dựng cổng thông tin hoặc hệ thống tra cứu công khai về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trên địa bàn, đồng thời cập nhật đầy đủ trạng thái của từng mã số như đang hoạt động, đang bị cảnh báo hay đã bị thu hồi.

Theo ông, khi dữ liệu được minh bạch và cập nhật theo thời gian thực, doanh nghiệp có thể nhanh chóng xác định vùng nguyên liệu đủ điều kiện xuất khẩu, kết nối trực tiếp với nhà vườn, hợp tác xã có mã số hợp lệ, qua đó giảm rủi ro trong thu mua, nâng cao tính minh bạch của chuỗi cung ứng và hạn chế tình trạng sử dụng sai hoặc giả mạo mã số vùng trồng.

Nếu được triển khai đồng bộ, đi cùng kiểm soát chặt gian lận mã số, nâng cao năng lực cấp cơ sở và xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất minh bạch, đây sẽ là bước ngoặt giúp ngành sầu riêng Việt Nam tháo gỡ điểm nghẽn tồn tại nhiều năm.

NGUYỄN LIẾN

Nguồn VTC: https://vtcnews.vn/go-nut-that-ve-ma-so-vung-trong-co-hoi-de-tang-toc-xuat-khau-sau-rieng-ar1032635.html