Gỡ vướng cơ chế để Tổ công nghệ số cộng đồng phát huy hiệu quả - Bài 2: Khi 'hạt nhân' công nghệ số 'bám rễ' bản làng

Khi tư duy chuyển đổi số được gắn chặt với “bài toán” sinh kế và nhu cầu tìm hiểu thông tin phục vụ cuộc sống, các Tổ công nghệ số cộng đồng (CNSCĐ) sẽ thực sự trở thành cầu nối thông tin đắc lực cho người dân. Vượt lên trên những rào cản hạ tầng, những “hạt nhân” bám bản này còn góp phần quan trọng trong việc minh bạch hóa dữ liệu, đưa pháp luật và tinh thần bảo vệ tài nguyên "cắm rễ" sâu vào từng thôn bản.

Đòn bẩy kinh tế số cùng thông tin minh bạch

Nhìn nhận từ góc độ cơ quan quản lý cấp tỉnh, ông Trần Diễm Phúc, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số tỉnh Quảng Trị nhấn mạnh rằng, sức sống trường tồn của Tổ CNSCĐ nằm ở chỗ họ chính là người bản địa, trực tiếp mưu sinh cùng người dân nên thấu hiểu từng nhịp thở, từng góc khuất của xóm làng. Họ đóng vai trò là “bộ lọc” và “bộ phiên dịch”, biến những thuật ngữ khô khan của chuyển đổi số, công nghệ số thành những câu chuyện sinh kế thực tế.

Lấy ví dụ điển hình từ “bài toán” kinh tế rừng tràm, ông Phúc phân tích: “Khi được Tổ CNSCĐ hỗ trợ tiếp cận thông tin thông suốt, bà con không chỉ nắm rõ quy hoạch vùng trồng rừng lâm nghiệp mà còn mở rộng tư duy sang các mô hình kinh tế kết hợp như nuôi chim cút, nuôi gà thịt dưới tán rừng. Vấn đề cốt lõi tiếp theo là đầu ra. Nếu trước đây sản phẩm làm ra hoàn toàn phụ thuộc thương lái ép giá tại chỗ, thì nay, khi tiếp cận được thương mại điện tử và mạng xã hội, bà con có thể kết nối trực tiếp với các hội nhóm tiêu thụ, đưa nông sản sạch đến thẳng các nhà hàng, khách sạn lớn tại trung tâm đô thị như Đồng Hới hay Đông Hà với giá trị gia tăng cao hơn hẳn”.

Bên cạnh nỗ lực từ cơ sở, bức tranh chuyển đổi số tại Quảng Trị còn ghi nhận một bước đột phá mang tính cấu trúc hệ thống. Ông Trần Diễm Phúc cho biết thêm, Quảng Trị hiện là một trong các địa phương đầu tiên trên cả nước tiên phong xây dựng chuyên mục “Tiếp cận thông tin” được tích hợp đồng bộ trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh và 78 xã, phường.

“Cánh cửa” thông tin này cho phép mọi người dân, dù ở miền xuôi hay bản làng vùng sâu, đều có quyền tra cứu minh bạch mọi dữ liệu công khai thuộc danh mục phải công khai theo quy định của pháp luật: Từ quy hoạch sử dụng đất, dự án đầu tư công cho đến các chính sách an sinh xã hội. Đặc biệt, hệ thống này thiết lập cơ chế ràng buộc trách nhiệm pháp lý rõ ràng đó là, khi nhận được phản ánh, kiến nghị hoặc yêu cầu cung cấp thông tin từ người dân, các cơ quan chức năng bắt buộc phải phản hồi trong thời hạn cụ thể. Điều này triệt tiêu tình trạng đùn đẩy trách nhiệm và tạo ra sự minh bạch tuyệt đối trong quản trị công trên môi trường số.

Đánh giá ở góc độ truyền thông và phát triển, bà Trần Thị Khánh Hòa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu truyền thông và phát triển đánh giá: “Chuyển đổi số không thể áp đặt rập khuôn, máy móc, nhất là tại các vùng đặc biệt khó khăn. Tiến trình tiếp cận thông tin phải gắn liền với nhu cầu sinh hoạt thực tiễn hằng ngày của người dân như thoát nghèo, phát triển kinh tế và bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Khi các Tổ CNSCĐ được trang bị năng lực để hướng dẫn bà con kết nối thương mại, khai thác nguồn tin chính thống, lúc đó chuyển đổi số mới thực sự “ra tiền”, tạo ra giá trị kinh tế trực quan và lan tỏa sức sống bền vững trong cộng đồng”.

Củng cố kỷ cương pháp luật tại cơ sở

Không dừng lại ở “bài toán” phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo, việc phủ sóng hạ tầng thông tin và dữ liệu số về đến từng thôn bản còn mang một tầng ý nghĩa chiến lược mang tính then chốt là củng cố kỷ cương, thượng tôn pháp luật ngay tại địa bàn tuyến đầu.

Dưới góc độ pháp lý chuyên sâu, bà Nguyễn Thị Kim Thoa, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính (Bộ Tư pháp) - nay là Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp) chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa công nghệ và quản trị xã hội.

“Khi Tổ CNSCĐ ở cơ sở được kích hoạt đúng vai trò, họ không chỉ là hạt nhân kinh tế mà còn là “cánh tay nối dài” đưa các đạo luật thiết thân như Luật Tiếp cận thông tin, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Lâm nghiệp... thẩm thấu vào đời sống người dân. Pháp luật không còn là những điều khoản khô cứng trên giấy mà trở thành quy tắc ứng xử, cẩm nang hành xử hằng ngày”.

Đặc biệt, tại các địa bàn có diện tích rừng tự nhiên và rừng phòng hộ lớn như Phong Nha hay Bố Trạch, “bài toán” bảo tồn tài nguyên thiên nhiên luôn chịu nhiều áp lực đan xen. Theo quan điểm của bà Thoa, sự minh bạch hóa thông tin, bản đồ quy hoạch lâm nghiệp số hóa và hệ thống dữ liệu đất đai chính là vũ khí sắc bén nhất để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người dân, đồng thời vô hiệu hóa từ sớm các hành vi vi phạm pháp luật ngay tại gốc. Khi mọi biến động về diện tích rừng, quy hoạch sử dụng đất hay các quyết định hành chính được công khai, minh bạch trên không gian số, mọi hành vi lấn chiếm đất rừng, khai thác trái phép hay tiêu cực cục bộ sẽ bị giám sát chặt chẽ bởi cả hệ thống công quyền lẫn cộng đồng dân cư. Điều này giúp cơ quan nhà nước chuyển từ thế “phòng ngừa bị động” sang “kiểm soát chủ động”, bịt kín những kẽ hở pháp lý từ cơ sở.

Sau chuyến đi thực địa, hầu hết các lãnh đạo, chuyên gia và kể cả chính quyền 2 xã Bố Trạch và Phong Nha hầu như đều cùng chung một mong muốn, trong tương lai gần, các Tổ CNSCĐ sẽ không đơn thuần là một tổ chức hành chính bắt buộc mà phải là những người đang kiên trì đưa tri thức, công nghệ, sinh kế và tinh thần thượng tôn pháp luật hòa quyện vào nhịp sống người dân. Bảo đảm không một thôn bản nào bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia hiện nay.

Bảo Thiên

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/go-vuong-co-che-de-to-cong-nghe-so-cong-dong-phat-huy-hieu-qua-bai-2-khi-hat-nhan-cong-nghe-so-bam-re-ban-lang.html