Gỡ vướng thuế GTGT cho doanh nghiệp ngành gỗ
Cách áp dụng thuế GTGT chưa thống nhất đối với gỗ nguyên liệu nhập khẩu đang khiến doanh nghiệp gặp khó trong thông quan, xử lý hóa đơn và hoàn thuế.
Nộp thuế để thông quan, mắc kẹt khi hoàn thuế
Cùng là gỗ nguyên liệu nhập khẩu, nhưng theo phản ánh của doanh nghiệp, có trường hợp hàng hóa không bị thu thuế giá trị gia tăng (GTGT) tại Quy Nhơn, trong khi hồ sơ được cho là tương tự tại Cát Lái lại phải nộp thuế. Sự khác biệt trong cách áp dụng chính sách khiến doanh nghiệp khó xác định nghĩa vụ thuế, kéo theo những vướng mắc trong mua bán nguyên liệu, xử lý hóa đơn và hoàn thuế về sau.
Phản ánh thực trạng này tại hội thảo " Thuế GTGT gỗ nguyên liệu và gỗ sơ chế", ông Nguyễn Liêm, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Lâm Việt, cho biết doanh nghiệp đang căn cứ vào Nghị định 181/2025/NĐ-CP và Thông tư 84/2025/TT-BNNMT để xác định chính sách thuế đối với gỗ rừng trồng và gỗ sơ chế thông thường.
Tuy nhiên, theo ông Liêm, cách xác định điều kiện áp dụng giữa cơ quan thuế và hải quan vẫn còn khác nhau. Điều này khiến doanh nghiệp khó chủ động kế hoạch nhập khẩu nguyên liệu, dự tính chi phí và lựa chọn phương án kê khai thuế phù hợp.

Ông Nguyễn Liêm, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Lâm Việt. Ảnh: Hồng Anh
Ở góc độ doanh nghiệp nhập khẩu, bà Trần Hạo Nhiên, Phó giám đốc Công ty TNHH giải pháp số Bình Dương, doanh nghiệp chuyên nhập khẩu gỗ, đặc biệt từ thị trường Canada, cũng nêu vướng mắc khi trước đây công ty nộp thuế GTGT tại khâu nhập khẩu, sau đó bán lại cho doanh nghiệp sản xuất và xuất hóa đơn với thuế suất tương ứng, hiện là 8% đối với những mặt hàng thuộc diện được giảm thuế.
Theo quy định hiện hành, doanh nghiệp mua sản phẩm gỗ rừng trồng chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường để bán cho doanh nghiệp khác thuộc trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Trên cơ sở đó, một số khách hàng yêu cầu Bình Dương Solutions không tính thuế GTGT trên hóa đơn bán hàng. Trong khi đó, tại khâu nhập khẩu, doanh nghiệp vẫn được yêu cầu nộp thuế để thông quan.
Nếu không nộp thuế thì hàng hóa có nguy cơ bị lưu tại cảng, phát sinh chi phí lưu container, lưu bãi và ảnh hưởng đến tiến độ cung ứng nguyên liệu. Vì vậy, doanh nghiệp vẫn lựa chọn nộp thuế để đưa hàng về, dù chưa rõ khoản thuế này sẽ được xử lý như thế nào khi giao dịch bán ra được xác định thuộc diện không phải kê khai, tính nộp thuế.
Vướng mắc còn phát sinh trong quá trình mua bán giữa các doanh nghiệp. Ông Liêm dẫn chứng thêm trường hợp bên mua không chấp nhận hóa đơn có thuế dù nhà nhập khẩu đã nộp thuế GTGT tại hải quan. Thậm chí, sau khi giao dịch hoàn tất, bên mua yêu cầu điều chỉnh hóa đơn và hoàn lại khoản tiền thuế đã thanh toán.
Những yêu cầu này khiến doanh nghiệp phải xử lý lại chứng từ, đối chiếu công nợ và có nguy cơ phát sinh tranh chấp thương mại.
Đáng chú ý, các khoản thuế đã nộp nhưng chưa được giải quyết tiếp tục làm tồn đọng vốn lưu động, trong khi doanh nghiệp vẫn phải thanh toán tiền nguyên liệu, duy trì sản xuất và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với những lô hàng nhập khẩu tiếp theo.
Vì thế, điều doanh nghiệp cần không chỉ là hướng dẫn cách kê khai đối với những giao dịch mới, mà còn là phương án xử lý cụ thể đối với các khoản thuế đã phát sinh, từ cơ chế xử lý, cơ quan tiếp nhận đến hồ sơ và thời gian giải quyết.
Thống nhất cách phân loại để tháo gỡ vướng mắc về thuế
Một trong những nguyên nhân dẫn đến các vướng mắc về thuế GTGT là việc xác định thế nào là gỗ sơ chế thông thường.
Trên thực tế, nguyên liệu gỗ nhập khẩu phục vụ sản xuất có nhiều dạng khác nhau, từ gỗ xẻ thô chưa qua sấy, gỗ xẻ đã sấy đến gỗ đã qua sấy và bào bề mặt.
Tuy nhiên, cách xác định mức độ sơ chế hiện nay chưa thực sự rõ ràng, đặc biệt đối với công đoạn sấy gỗ. Trong khi đó, với nhiều doanh nghiệp chế biến đồ nội thất, gỗ xẻ đã qua sấy vẫn chỉ là nguyên liệu đầu vào, cần tiếp tục trải qua các công đoạn gia công, chế biến để tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh.
Sự khác biệt trong cách hiểu về mức độ sơ chế vì vậy ảnh hưởng trực tiếp đến việc phân loại hàng hóa và áp dụng chính sách thuế tương ứng.
Trước những phản ánh này, ông Nguyễn Chí Thanh, Phó trưởng phòng Nghiệp vụ, Chi cục Hải quan khu vực II, cho rằng để tháo gỡ vướng mắc một cách căn cơ, cần có những tiêu chí cụ thể làm cơ sở xác định nguồn gốc và mức độ sơ chế của gỗ.
Ông Thanh cho biết nếu chỉ đưa ra khái niệm chung về gỗ sơ chế thông thường là chưa đủ, bởi trong thực tế, các công đoạn ngâm, tẩm, sấy có thể được thực hiện bằng nhiều phương pháp và công nghệ khác nhau.

Ông Nguyễn Chí Thanh, Phó trưởng phòng Nghiệp vụ, Chi cục Hải quan khu vực II. Ảnh: Hồng Anh
Chẳng hạn, riêng công đoạn sấy đã có sự khác biệt về nhiệt độ, thời gian và công nghệ sử dụng. Vấn đề cần làm rõ là những công đoạn nào, được thực hiện đến mức độ nào thì sản phẩm vẫn được xem là gỗ sơ chế thông thường, thay vì sản phẩm đã qua chế biến.
Ông Thanh cho rằng chính doanh nghiệp và hiệp hội ngành gỗ là những đơn vị am hiểu quy trình sản xuất, công nghệ và đặc điểm từng loại sản phẩm. Vì vậy, hiệp hội cần chủ động nghiên cứu, đề xuất bộ tiêu chí kỹ thuật cụ thể để cơ quan có thẩm quyền xem xét.
Khi có tiêu chí rõ ràng, doanh nghiệp có thể chuẩn bị hồ sơ, tài liệu kỹ thuật và chứng từ liên quan để chứng minh mức độ sơ chế của sản phẩm. Cơ quan quản lý cũng có cơ sở thống nhất trong việc phân loại hàng hóa và xác định nghĩa vụ thuế.
Tương tự, đối với nguồn gốc gỗ nhập khẩu, ông Thanh cho rằng cần xây dựng những tiêu chí chung để xác định tính hợp pháp của nguồn gốc, thay vì chỉ dựa vào tên gọi của từng loại giấy phép hoặc chứng nhận.
Bởi lẽ, hệ thống quản lý và chứng từ tại mỗi quốc gia có thể khác nhau. Một loại giấy tờ được sử dụng tại thị trường này chưa chắc đã có hình thức tương ứng tại thị trường khác.
Do đó, bên cạnh danh mục hồ sơ được chấp nhận, việc xây dựng bộ tiêu chí xác định nguồn gốc hợp pháp sẽ giúp doanh nghiệp có căn cứ chuẩn bị chứng từ, đồng thời tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý trong quá trình kiểm tra.
Chỉ khi làm rõ được hai vấn đề về nguồn gốc và mức độ sơ chế, việc xác định hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế hay không chịu thuế GTGT sẽ có cơ sở rõ ràng hơn. Đây cũng là tiền đề để xem xét xử lý những khoản thuế doanh nghiệp đã nộp tại khâu nhập khẩu.
Đối với các trường hợp đã nộp thuế nhưng sau đó được xác định không thuộc diện phải nộp, khoản tiền này cần được xem xét xử lý theo quy định. Tùy từng trường hợp, phương án có thể liên quan đến hoàn thuế, khấu trừ hoặc bù trừ nghĩa vụ thuế.
Cùng quan điểm về yêu cầu thống nhất cách xác định nghĩa vụ thuế, bà Lâm Thanh Hồng, Phó phòng Nghiệp vụ dự toán, Thuế TP.HCM, cho rằng việc phân loại hàng hóa và xác định đối tượng chịu thuế ngay từ khâu nhập khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình giải quyết hồ sơ hoàn thuế.
Thực tế, có những trường hợp doanh nghiệp đã nộp thuế GTGT tại khâu nhập khẩu nhưng khi đề nghị hoàn thuế lại gặp vướng mắc do cách xác định đối tượng chịu thuế chưa thống nhất.
Vì vậy, việc giải quyết cần có sự phối hợp giữa cơ quan thuế và hải quan, trên cơ sở xác định rõ bản chất hàng hóa và nghĩa vụ thuế tương ứng.
Đối với những hồ sơ hoàn thuế đang tồn đọng, đại diện Thuế TP.HCM cho rằng việc xử lý riêng lẻ từng trường hợp khó giải quyết được những vướng mắc chung trong áp dụng chính sách.
Vì vậy, cơ quan thuế đề nghị Hiệp hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM tổng hợp các trường hợp cụ thể, đặc biệt là những hồ sơ hoàn thuế chưa được giải quyết, để kiến nghị Bộ Tài chính có hướng dẫn thống nhất và chỉ đạo sự phối hợp giữa cơ quan thuế với cơ quan hải quan.
Việc thống nhất cách xác định nguồn gốc, mức độ sơ chế và chính sách thuế đối với từng loại gỗ không chỉ là cơ sở giải quyết những hồ sơ tồn đọng, mà còn giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong nhập khẩu nguyên liệu, kê khai thuế và tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/go-vuong-thue-gtgt-cho-doanh-nghiep-nganh-go-d48084.html
