Góc nhìn văn hoá: Đảng viên làm kinh tế tư nhân - Đổi mới tư duy để phát huy nguồn lực, giữ vững liêm chính
Chủ trương đảng viên làm kinh tế tư nhân là kết quả của một quá trình đổi mới tư duy, tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận của Đảng. Vấn đề đặt ra hôm nay không chỉ là mở rộng quyền làm kinh tế, mà quan trọng hơn là xác lập một chuẩn mực mới: Quyền kinh doanh phải đi cùng trách nhiệm, thành công phải đi cùng liêm chính và phát triển phải gắn với con người.
Chiều 14/9/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách và chiến lược Trung ương cùng các cơ quan liên quan về Đề án xây dựng Quy định mới về đảng viên làm kinh tế tư nhân.
Kết luận buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh: Chủ trương đảng viên làm kinh tế tư nhân là kết quả của một quá trình đổi mới tư duy, tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận của Đảng. Đây là một nhận định quan trọng, bởi phía sau một quy định về đảng viên làm kinh tế là câu chuyện rộng hơn về cách nhìn nhận nguồn lực xã hội, quyền làm giàu chính đáng và mối quan hệ giữa quyền lợi cá nhân với trách nhiệm cộng đồng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc với Ban Chính sách và chiến lược Trung ương cùng các cơ quan liên quan về Đề án xây dựng Quy định mới về đảng viên làm kinh tế tư nhân. Ảnh: TTXVN.
Đổi mới tư duy để quyền làm kinh tế không trở thành đặc quyền
Thực tiễn phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đặt ra những vấn đề mà cách tiếp cận cũ không thể giải quyết đầy đủ. Kinh tế tư nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng; trong khu vực này có những doanh nhân, nhà khoa học, kỹ sư, công nhân kỹ thuật và nhiều người lao động ưu tú là đảng viên.
Vì vậy, vấn đề không còn là nhìn nhận việc đảng viên làm kinh tế tư nhân như một ngoại lệ, mà phải xây dựng một khuôn khổ pháp lý, chính trị và đạo đức phù hợp với thực tiễn mới.
Nhưng đổi mới không đồng nghĩa với buông lỏng nguyên tắc.
Tinh thần cốt lõi được đặt ra là: Đảng viên có quyền tham gia hoạt động kinh tế hợp pháp, nhưng tư cách đảng viên không tạo ra đặc quyền kinh doanh. Mọi chính sách hỗ trợ phải dựa trên tiêu chí công khai, bình đẳng; doanh nghiệp không được hưởng lợi hay chịu bất lợi chỉ vì người chủ có hoặc không có tư cách đảng viên.
Đây là một nguyên tắc có ý nghĩa không chỉ về quản lý mà còn về văn hóa.
Một thị trường lành mạnh phải là nơi năng lực, sáng tạo, chất lượng và hiệu quả quyết định sức cạnh tranh, chứ không phải quan hệ hay khả năng tiếp cận quyền lực. Khi ranh giới giữa quyền lực công và lợi ích kinh doanh được xác định rõ, người làm kinh tế chân chính được bảo vệ, đồng thời nguy cơ lợi dụng vị trí để tư lợi được kiểm soát.
Bởi vậy, yêu cầu phân định quyền và giới hạn theo từng nhóm đảng viên là rất cần thiết. Cán bộ, công chức đương nhiệm; viên chức; đảng viên trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; người lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước, người đại diện vốn nhà nước hay người đã nghỉ hưu không thể áp dụng một khuôn khổ giống nhau.
Rõ giới hạn để bảo vệ quyền; rõ trách nhiệm để kiểm soát quyền. Đó chính là tinh thần cần được thể hiện trong Quy định mới.
Quan trọng hơn, cần thay đổi cách đánh giá đảng viên làm kinh tế. Không thể lấy tài sản, quy mô doanh nghiệp hay mức đóng góp tài chính làm thước đo chủ yếu. Năng suất, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu Việt, nghĩa vụ thuế, tiền lương, bảo hiểm, an toàn lao động, bảo vệ môi trường và hiệu quả phát triển bền vững mới là những tiêu chí có thể kiểm chứng.
Thước đo văn hóa kinh doanh bắt đầu từ cách đối xử với người lao động
Điểm sâu sắc trong định hướng xây dựng Quy định mới là đặt trách nhiệm đối với người lao động vào trung tâm của yêu cầu về văn hóa kinh doanh.
Một doanh nghiệp có thể lớn về vốn, mạnh về thị trường, nổi tiếng về thương hiệu, nhưng nếu người lao động không được trả lương đầy đủ, không được bảo đảm quyền lợi, an toàn và môi trường làm việc thì chưa thể nói đó là một doanh nghiệp có văn hóa.
Trách nhiệm xã hội vì thế không bắt đầu từ những khoản tài trợ lớn, mà bắt đầu từ những con người đang cùng mình tạo ra giá trị mỗi ngày.
Đóng góp tài chính không thể thay thế việc chấp hành pháp luật và kỷ luật của Đảng. Từ thiện cũng không thể bù đắp cho vi phạm nghĩa vụ đối với người lao động. Đây là ranh giới cần được xác lập rõ để tránh một thứ “văn hóa thành tích” trong kinh doanh: Dùng những đóng góp bên ngoài để che khuất những thiếu hụt trong trách nhiệm bên trong.
Một doanh nhân có văn hóa không chỉ biết kiếm tiền, mà phải biết kiếm tiền bằng cách nào, sử dụng thành quả ra sao và đối xử với những người tạo ra thành quả ấy thế nào.
Đó cũng là lý do cần khuyến khích đảng viên có năng lực đi đầu trong đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, xây dựng thương hiệu Việt và phát triển doanh nghiệp bền vững. “Nêu gương” trong khu vực kinh tế tư nhân không thể chỉ dừng ở lời nói, mà phải được chứng minh bằng năng lực quản trị, hiệu quả sản xuất, sự tuân thủ pháp luật và trách nhiệm với cộng đồng.
Cùng với đó, công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân phải tránh tư duy chạy theo số lượng. Việc phát triển đảng viên từ doanh nhân tiêu biểu cần được tiến hành đồng thời với việc chú trọng công nhân kỹ thuật, kỹ sư, nhà khoa học và những người lao động ưu tú. Động cơ phấn đấu, phẩm chất, uy tín và quá trình rèn luyện phải là căn cứ thực chất; khả năng tài trợ tuyệt đối không thể trở thành tiêu chí để kết nạp Đảng.
Đây là vấn đề không chỉ liên quan đến công tác tổ chức mà còn liên quan trực tiếp đến uy tín và văn hóa của Đảng.
Một tổ chức Đảng tốt trong doanh nghiệp phải thực sự là hạt nhân chính trị, làm tốt giáo dục, giám sát đảng viên, góp phần xây dựng quan hệ lao động tiến bộ; đồng thời không làm thay chức năng của chủ sở hữu và bộ máy điều hành. Sinh hoạt Đảng cần phù hợp với đặc điểm sản xuất, nhưng không vì thế mà giảm nguyên tắc, chất lượng và trách nhiệm.
Suy cho cùng, giá trị của Quy định mới sẽ không nằm ở việc có thêm bao nhiêu điều khoản, mà ở khả năng tạo dựng một môi trường trong đó đảng viên yên tâm kinh doanh đúng pháp luật, doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng, người lao động được tôn trọng và người dân tin rằng quyền lực công không bị chuyển hóa thành đặc quyền tư nhân.
Đó là điểm gặp nhau giữa đổi mới tư duy và giữ vững nguyên tắc; giữa phát triển kinh tế và xây dựng Đảng; giữa quyền làm giàu chính đáng và trách nhiệm với xã hội.
Một nền kinh tế mạnh cần những doanh nghiệp mạnh; nhưng một xã hội lành mạnh còn cần những doanh nhân biết rằng giá trị của mình không chỉ được đo bằng những gì mình sở hữu, mà trước hết bằng cách mình tạo ra giá trị và cách mình đối xử với con người. Khi người đảng viên làm kinh tế chứng minh được điều đó bằng chính doanh nghiệp, người lao động và những giá trị bền vững mình tạo dựng, thì đổi mới tư duy không chỉ giải phóng nguồn lực cho phát triển, mà còn góp phần làm giàu thêm văn hóa liêm chính của đất nước.
V.X.B
