Gợi mở những kiến tạo để di sản Huế trở thành động lực phát triển
HNN.VN - PGS.TS. Nguyễn Xuân Tế (Tổng Biên tập Tạp chí Khoa học Trường Đại học Văn Lang) cho rằng, Huế đang đứng trước bước ngoặt lớn về thể chế khi di sản không chỉ được nhìn nhận đơn thuần là đối tượng bảo tồn mà trở thành nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm để phát triển.

Di sản Huế là tiềm năng để trở thành nguồn lực nội sinh của nền kinh tế
Trong khuôn khổ hội thảo quốc tế “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn”, chiều 18/7, các chuyên gia đi sâu phân tích những vấn đề cụ thể của vùng đất Cố đô Huế.
Mở rộng cách tiếp cận di sản Huế
Mười tham luận của các nhà khoa học đã mang đến nhiều góc nhìn mới, từ lịch sử, văn hóa, triết học, quản trị công, quy hoạch đô thị đến công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và phát triển kinh tế di sản.
Các nghiên cứu nhìn nhận, Huế là một “kho tàng di sản” với Quần thể Di tích Cố đô, di sản Triều Nguyễn, Phật giáo, các làng nghề truyền thống, nghệ thuật Bài Chòi hay ẩm thực đặc sắc. Đồng thời, xem đây là nguồn lực để kiến tạo một đô thị di sản sáng tạo, phát triển bền vững dựa trên nền tảng văn hóa.
Một xu hướng đáng chú ý được nhiều học giả đề cập là sự dịch chuyển trong tư duy bảo tồn. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là gìn giữ giá trị di sản thì nay, các nghiên cứu hướng nhiều hơn đến “phần chìm” của di sản - gồm ký ức cộng đồng, hệ giá trị, tri thức bản địa, lối sống và bản sắc văn hóa. Đây được xem là những yếu tố quyết định sức sống lâu dài của di sản, đồng thời tạo nên sự gắn kết giữa quá khứ với đời sống đương đại.
Theo PGS.TS. Nguyễn Xuân Tế (Tổng Biên tập Tạp chí Khoa học Trường Đại học Văn Lang), Huế đang đứng trước bước ngoặt lớn về thể chế khi di sản không chỉ được nhìn nhận đơn thuần là đối tượng bảo tồn mà trở thành nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm để phát triển.
PGS.TS. Nguyễn Xuân Tế cho rằng, hành lang pháp lý mới với Luật Di sản văn hóa năm 2024 cùng các định hướng phát triển văn hóa trong giai đoạn mới đã mở ra cơ hội chuyển từ tư duy bảo tồn thụ động sang bảo tồn gắn với sáng tạo liên tục, phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế du lịch di sản. Theo định hướng này, kinh tế du lịch di sản được kỳ vọng sẽ đóng góp khoảng 13-14% GRDP cho Huế vào năm 2030.
Phân tích sâu hơn, PGS.TS. Nguyễn Xuân Tế nhận định, Huế có lợi thế nổi bật là hệ thống di sản độc bản cùng giá trị lịch sử được kiểm chứng. Tuy nhiên, địa phương cũng đang đối mặt với những điểm nghẽn về cơ chế, nguồn nhân lực và sự thiếu đồng bộ trong quản lý. Bên cạnh cơ hội từ chuyển đổi số và kỷ nguyên dữ liệu, Huế cũng phải ứng phó với sức ép thương mại hóa và những tác động ngày càng lớn của môi trường.

TS. Phan Thanh Hải cùng các chuyên gia điều hành phiên thảo luận chuyên đề “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Huế”
Để biến di sản thành động lực phát triển, PGS.TS. Nguyễn Xuân Tế đề xuất nhiều giải pháp như hoàn thiện thể chế, xây dựng hệ sinh thái bảo tồn hiện đại, chuẩn hóa nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện. Đặc biệt, ông nhấn mạnh vai trò của cộng đồng trong bảo tồn di sản, xem người dân là chủ thể chứ không chỉ là đối tượng thụ hưởng.
Một góc nhìn khác cũng thu hút sự quan tâm là tham luận “Từ Wawel đến Hoàng thành Huế: Di sản hoàng gia trong đời sống ký ức đương đại” của TS. Hoàng Phương Thảo (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội). Qua việc so sánh Lâu đài Wawel của Ba Lan với Hoàng thành Huế, tác giả đặt ra câu hỏi: Điều gì giúp một di sản vẫn tiếp tục có ý nghĩa khi vai trò chính trị và quyền lực lịch sử của nó đã kết thúc?
Theo TS. Thảo, Wawel không chỉ là một di tích mà đã trở thành biểu tượng quốc gia, nơi ký ức được thực hành liên tục và luôn mở ra những cuộc đối thoại với xã hội hiện đại. Trong khi đó, Hoàng thành Huế - từng là trung tâm quyền lực của Triều Nguyễn - có nhiều tiềm năng để trở thành “không gian ký ức sống”. Từ kinh nghiệm quốc tế, bà cho rằng, việc kể câu chuyện về Triều Nguyễn cần được tiếp cận đa chiều, khách quan. Chính cách diễn giải lịch sử nhiều chiều sẽ giúp di sản kết nối tốt hơn với công chúng, đồng thời mở rộng không gian sáng tạo cho các hoạt động giáo dục, du lịch và công nghiệp văn hóa.
Văn hóa phải là ngành chiến lược quốc gia
Trong khi đó, ở phiên thảo luận “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam”, các chuyên gia đã tập trung làm rõ thực trạng cũng như gợi mở những hướng phát triển mới cho giá trị di sản.
Tiếp cận vấn đề từ góc độ quản trị tài sản số, PGS.TS. Nguyễn Mạnh Dũng (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, công tác di sản ở Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào bảo tồn hiện vật, số hóa, lưu trữ... và chưa coi dữ liệu di sản là tài sản cần được quản trị. Một khi được số hóa, di sản không còn chỉ là hiện vật hay thông tin lưu trữ mà trở thành tài sản dữ liệu văn hóa (Cultural Data Assets). Do đó, đối tượng quản trị không còn là hiện vật mà là dữ liệu của hiện vật.
Trong kỷ nguyên số, giá trị của di sản không chỉ nằm ở bản thân hiện vật mà ngày càng nằm ở khả năng tạo lập, quản trị và khai thác dữ liệu của di sản. Nhiệm vụ trọng tâm của quản trị di sản không còn dừng lại ở số hóa, mà phải chuyển sang xây dựng mô hình quản trị tài sản dữ liệu, nhằm biến dữ liệu di sản thành nguồn lực cho giáo dục, nghiên cứu, công nghiệp văn hóa, đổi mới sáng tạo, lan tỏa, AI và chuyển đổi số.
Theo ông Dũng, thay vì chỉ là đơn vị lưu giữ, bảo vệ di sản, cơ quan quản lý cần trở thành đơn vị quản trị nền tảng dữ liệu, thiết lập tiêu chuẩn dữ liệu, cơ chế chia sẻ, quy định về cấp phép khai thác, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và điều phối các chủ thể tham gia hệ sinh thái dữ liệu di sản. Vai trò của Nhà nước chuyển dần từ người nắm giữ dữ liệu sang người kiến tạo thể chế và điều phối hệ sinh thái dữ liệu, bảo đảm vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa bảo vệ lợi ích công, các giá trị văn hóa và chủ quyền văn hóa trên không gian số.

Các chuyên gia trao đổi những vấn đề đặt ra trong phát triển công nghiệp văn hóa tại Huế và Việt Nam
Cũng đến từ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), TS. Đoàn Thu Nguyệt mượn câu chuyện chiến lược xây dựng sức mạnh mềm quốc gia Hàn Quốc với hiện tượng Hallyu (làn sóng văn hóa Hàn Quốc) để soi chiếu vào khả năng hành động, từ đó rút ra những gợi ý chính sách cho Việt Nam. Nữ chuyên gia này cho rằng, Hàn Quốc đã xây dựng chiến lược quốc gia bài bản. Ở đó, văn hóa đã thực sự kết hợp chặt chẽ với công nghệ, chính sách và thị trường.
Để làm được điều đó, Hàn Quốc đã xây dựng 5 trụ cột chính: công nghiệp nội dung đa phương tiện, nền tảng số và công nghệ, sức mạnh mềm và chuyển giao ý nghĩa, các ngành liên quan và phong cách sống, vai trò định hướng của nhà nước. Nhờ thế, hiệu ứng lan tỏa kinh tế và xã hội rất rõ ràng thông qua xuất khẩu nội dung văn hóa, từ đó lan tỏa sang các ngành mỹ phẩm, ẩm thực, thời trang, game…
Quay trở lại Việt Nam, TS. Nguyệt khẳng định, có thể xem đó là bài học cốt lõi và chúng ta phải xây dựng một lộ trình cụ thể. Việt Nam cần xem xét văn hóa là ngành chiến lược quốc gia, nơi nhà nước đóng vai trò hỗ trợ nhưng không can thiệp sâu; đồng thời cần phát triển mạnh mẽ công nghiệp văn hóa và xây dựng hệ sinh thái thương hiệu quốc gia.
Hội thảo “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn” do Trường Đại học Khoa học (Đại học Huế) phối hợp với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức.
Tiếp nhận hơn 300 tham luận, hội thảo qui tụ các nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên, nhà quản lý và nghiên cứu viên đến từ nhiều trường đại học, học viện, viện nghiên cứu và cơ quan quản lý. Trong đó, có sự tham gia của các học giả, chuyên gia đến từ 5 quốc gia gồm Tây Ban Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp và Trung Quốc, cùng đông đảo các nhà khoa học Việt Nam.












