'Gộp' vườn quốc gia để giảm đầu mối: Liệu có đánh đổi an ninh sinh thái?

7 tổ chức bảo tồn vừa kiến nghị Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng đề án tổng thể, thay vì sáp nhập cơ học theo địa giới hành chính.

Việc sáp nhập cơ học các vườn quốc gia, khu bảo tồn theo địa giới hành chính hoặc mục tiêu giảm đầu mối có thể làm suy yếu công tác bảo tồn – nền tảng của an ninh sinh thái, nguồn nước, đa dạng sinh học, khả năng thích ứng biến đổi khí hậu và vốn tự nhiên quốc gia. Phóng viên Tiền Phong có cuộc trao đổi với ông Trịnh Lê Nguyên, Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên về nội dung này.

Giá trị bảo tồn không thể đánh đổi bằng số lượng biên chế

Thưa ông, được biết mới đây các tổ chức bảo tồn tại Việt Nam, trong đó có Trung tâm Con người và Thiên nhiên gửi kiến nghị lên Chính phủ về việc tạm dừng sáp nhập cơ học hoặc xử lý đơn lẻ các ban quản lý vườn quốc gia, khu bảo tồn theo từng địa phương, ông có thể chia sẻ rõ hơn về kiến nghị này?

Ông Trịnh Lê Nguyên: Trước hết chúng ta cần nhìn nhận, các vườn quốc gia và khu bảo tồn là những đơn vị sự nghiệp có tính đặc thù cao, khác biệt với các đơn vị sự nghiệp công lập trong các lĩnh vực khác.

Đây là nền tảng của an ninh sinh thái quốc gia, bảo vệ và duy trì rừng tự nhiên, nguồn nước. Các hệ sinh thái quan trọng như đất ngập nước, rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, sinh cảnh loài đặc hữu, nguy cấp, nguồn gen và các dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu là cung cấp và đảm bảo nhu cầu sống còn cho hầu hết hoạt động sản xuất, kinh tế và đời sống nhân dân.

Ông Trịnh Lê Nguyên, Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên.

Ông Trịnh Lê Nguyên, Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên.

Hệ thống các khu bảo tồn cần được nhìn rộng hơn rừng đặc dụng, bao gồm cả các hệ sinh thái biển, ven biển, đất ngập nước, khu Ramsar, khu bảo tồn loài và sinh cảnh, hành lang đa dạng sinh học và các vùng sinh cảnh có giá trị quốc gia.

Chúng ta cần phải hiểu rằng, một khu bảo tồn có thể nhỏ về diện tích hoặc ít nhân sự, nhưng lại gìn giữ sinh cảnh cuối cùng của một loài đặc hữu, nguy cấp, một vùng rạn san hô quan trọng, một bãi đẻ của rùa biển, một vùng đất ngập nước của chim di cư, hoặc một khu rừng đầu nguồn có ý nghĩa vượt xa phạm vi một tỉnh và quốc gia vì nó có ý nghĩa đối với giá trị đa dạng toàn cầu.

Những giá trị đó không thể được đánh giá chỉ bằng số lượng biên chế, quy mô đơn vị sự nghiệp hay khả năng tự chủ tài chính.

Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các định hướng lớn của Đảng trong giai đoạn mới đều nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh đi đôi với phát triển bền vững, xây dựng nền kinh tế xanh, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học và duy trì cân bằng sinh thái.

Hiện nay, Nghị quyết 105/NQ-CP đặt ra yêu cầu tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu quả, trong đó có nhiệm vụ sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập của các bộ, ngành và địa phương. Chúng tôi hoàn toàn hoan nghênh và ủng hộ chủ trương này.

Tuy nhiên, đối với hệ thống khu bảo tồn, việc tinh gọn cần được thực hiện trên nền tảng của khoa học bảo tồn, giá trị sinh thái và chức năng lâu dài của từng khu, thay vì chỉ tiếp cận như một bài toán giảm số lượng đầu mối hành chính.

Chúng tôi lo ngại rằng nếu việc sắp xếp được thực hiện theo hướng sáp nhập cơ học theo địa giới hành chính hoặc theo chỉ tiêu giảm đầu mối, mục tiêu bảo tồn có thể bị suy yếu nghiêm trọng.

Vì vậy, chúng tôi kính đề nghị Chính phủ chỉ đạo xem xét thận trọng việc sáp nhập cơ học hoặc xử lý đơn lẻ các ban quản lý khu bảo tồn theo từng địa phương nếu chưa có đánh giá đầy đủ về mức độ ảnh hưởng lâu dài của hoạt động này đối với giá trị sinh thái, tính liên kết cảnh quan, loài mục tiêu, chức năng hệ sinh thái và yêu cầu bảo tồn dài hạn.

Vườn quốc gia Cát Tiên, nơi sở hữu hệ thống động thực vật cực kỳ đa dạng và phong phú tại Việt Nam.

Vườn quốc gia Cát Tiên, nơi sở hữu hệ thống động thực vật cực kỳ đa dạng và phong phú tại Việt Nam.

Cần xây dựng Đề án tổng thể quản lý hệ thống khu bảo tồn

Vậy theo ông, việc quản lý hệ thống các vườn quốc gia, khu bảo tồn nên được thực hiện như nào?

Ông Trịnh Lê Nguyên: Chúng tôi kiến nghị Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nhanh chóng xây dựng Đề án tổng thể về tổ chức lại việc quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia.

Đề án này cần đề xuất phương án sắp xếp đồng bộ, khả thi về pháp lý, tài chính, nhân sự, tài sản công, đất đai, dữ liệu và thẩm quyền quản lý, không triển khai theo hướng thí điểm rời rạc, nhưng cũng không xử lý theo từng đơn vị riêng lẻ.

Chúng tôi kiến nghị Đề án cần tập trung 8 nội dung quan trọng.

Một là, xác lập nguyên tắc quản lý khu bảo tồn theo giá trị sinh thái, không chỉ theo địa giới hành chính. Các khu liền kề hoặc có kết nối chức năng sinh thái trực tiếp, kể cả nằm ở nhiều tỉnh khác nhau, cần được xem xét hợp nhất hoặc quản lý như một đơn vị bảo tồn thống nhất.

Ngược lại, các khu tuy cùng tỉnh nhưng khác biệt lớn về chức năng sinh thái, loài mục tiêu, vùng biển, đất ngập nước hoặc điều kiện quản lý thì không nên sáp nhập chỉ để giảm đầu mối.

Hai là, hình thành một đầu mối chuyên trách cấp quốc gia đủ thẩm quyền quản lý trực tiếp hệ thống khu bảo tồn có giá trị quốc gia.

Cần nghiên cứu sắp xếp lại chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan cấp cục có liên quan đến bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, kiểm lâm, lâm nghiệp, thủy sản, biển và đất ngập nước theo hướng trực tiếp quản lý thống nhất các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn biển, đất ngập nước quan trọng, khu Ramsar, khu bảo tồn loài và sinh cảnh, hành lang đa dạng sinh học và các vùng sinh cảnh có giá trị quốc gia.

Ba là, duy trì và tăng cường ban quản lý tại chỗ. Mỗi khu hoặc cụm khu bảo tồn sau khi sắp xếp vẫn cần ban quản lý đủ năng lực để thực hiện tuần tra, bảo vệ, giám sát đa dạng sinh học, phục hồi sinh thái, nghiên cứu, giáo dục môi trường, quản lý du lịch sinh thái, phối hợp cộng đồng, phòng cháy chữa cháy và xử lý vi phạm ban đầu.

Bốn là, phân định rõ vai trò của trung ương và địa phương. Chính quyền địa phương vẫn cần tham gia sâu vào quản lý vùng đệm, sinh kế cộng đồng, dịch vụ công, an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, du lịch và phối hợp xử lý vi phạm.

Tuy nhiên, các quyết định cốt lõi liên quan đến mục tiêu bảo tồn, phân khu chức năng, chuyển đổi sử dụng đất, đầu tư hạ tầng, khai thác dịch vụ, cho thuê môi trường rừng, phát triển du lịch trong khu bảo tồn và đánh giá hiệu quả quản lý cần được đặt dưới sự phê duyệt và giám sát của cơ quan trung ương.

Năm là, phân định hệ thống khu bảo tồn với rừng phòng hộ, rừng sản xuất và đất lâm nghiệp thông thường. Các khu có mục tiêu chính là bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái, loài, nguồn gen và giá trị thiên nhiên cấp quốc gia hoặc quốc tế cần được quản lý trong hệ thống khu bảo tồn quốc gia.

Rừng phòng hộ, do gắn trực tiếp với lợi ích phòng hộ, giảm rủi ro thiên tai, nguồn nước và an toàn của địa phương, có thể tiếp tục giao địa phương quản lý với tiêu chuẩn kỹ thuật và giám sát quốc gia phù hợp.

Sáu là, rà soát các công ty lâm nghiệp nhà nước. Những diện tích rừng tự nhiên, rừng có giá trị đa dạng sinh học cao, sinh cảnh loài nguy cấp, hành lang sinh thái hoặc có khả năng mở rộng khu bảo tồn cần được xem xét chuyển sang hệ thống khu bảo tồn do trung ương quản lý.

Những diện tích có chức năng phòng hộ rõ rệt nhưng không đạt tiêu chí khu bảo tồn có thể chuyển sang hệ thống rừng phòng hộ do địa phương quản lý.

Bảy là, thiết kế cơ chế tài chính quốc gia cho khu bảo tồn. Hệ thống khu bảo tồn là tài sản quan trọng quốc gia. Do đó, đầu tư cho quản lý, bảo vệ hệ thống này cũng là đầu tư cho phát triển, thuộc trách nhiệm của Nhà nước. Ngân sách trung ương cần bảo đảm các nhiệm vụ cốt lõi như lương, phụ cấp, tuần tra, thiết bị, giám sát đa dạng sinh học, phục hồi sinh thái, nghiên cứu khoa học, phòng cháy chữa cháy, cứu hộ động vật hoang dã và bảo trì hạ tầng thiết yếu.

Các nguồn thu hợp pháp từ dịch vụ môi trường rừng, du lịch sinh thái, cho thuê môi trường rừng, tài trợ, viện trợ, nghiên cứu, bồi hoàn đa dạng sinh học hoặc cơ chế tài chính mới cần được ưu tiên quay lại phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái và hỗ trợ cộng đồng vùng đệm.

Tám là, chuẩn bị đầy đủ cơ sở pháp lý. Chúng tôi nhận thức rằng việc tổ chức lại hệ thống khu bảo tồn quốc gia sẽ liên quan đến nhiều luật và quy định hiện hành về lâm nghiệp, đa dạng sinh học, thủy sản, đất đai, tài sản công, ngân sách nhà nước, viên chức, đơn vị sự nghiệp công lập và phân cấp quản lý giữa trung ương với địa phương.

Vì vậy, Đề án cần đánh giá rõ các vướng mắc pháp lý và đề xuất văn bản cần sửa đổi, bổ sung; trường hợp cần thiết, có thể trình Chính phủ hoặc Quốc hội ban hành một nghị quyết chuyên đề để thực hiện đồng bộ, kịp thời và đúng thẩm quyền.

 Khu Dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong thuộc tỉnh Quảng Trị là nơi sinh sống của quần thể linh trưởng đặc biệt quý hiếm

Khu Dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong thuộc tỉnh Quảng Trị là nơi sinh sống của quần thể linh trưởng đặc biệt quý hiếm

Thưa ông, giải pháp mà ông chia sẻ đã từng được áp dụng tại quốc gia nào hay chưa? Chúng ta có thể học hỏi gì từ kinh nghiệm quốc tế?

Ông Trịnh Lê Nguyên: Kinh nghiệm quốc tế cho thấy cách tiếp cận này không phải là mới. Trung Quốc đã ban hành Luật Vườn quốc gia năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, theo hướng thiết lập hệ thống quản lý vườn quốc gia thống nhất, chuẩn hóa và hiệu quả; trung ương giữ vai trò giám sát, quản lý hệ thống, trong khi cơ quan quản lý từng khu bảo tồn và chính quyền địa phương vẫn có trách nhiệm phối hợp thực thi.

Thái Lan cũng tổ chức hệ thống vườn quốc gia và khu bảo tồn động vật hoang dã theo tuyến quản lý chuyên trách ở trung ương, thông qua các ban quản lý tại chỗ và cơ chế phối hợp với địa phương.

Các ví dụ này tuy không phải khuôn mẫu để sao chép, nhưng cho thấy một nguyên tắc quan trọng: khu bảo tồn cần một trục quản trị quốc gia đủ mạnh, trong khi công việc hằng ngày vẫn phải được thực hiện bởi lực lượng quản lý tại chỗ và có sự phối hợp chặt chẽ với địa phương.

Hoạt động tuần tra, bảo vệ rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An.

Hoạt động tuần tra, bảo vệ rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An.

Chúng tôi hy vọng các kiến nghị trên sẽ góp phần giúp việc sắp xếp hệ thống vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn biển, đất ngập nước quan trọng và sinh cảnh loài nguy cấp được thực hiện theo hướng tinh gọn đúng bản chất: giảm phân tán trách nhiệm, thống nhất mục tiêu, tiêu chuẩn, tài chính, nhân lực và giám sát ở cấp quốc gia, đồng thời duy trì các ban quản lý tại chỗ đủ năng lực và vai trò phối hợp chặt chẽ của chính quyền địa phương để bảo vệ hiệu quả hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quan trọng và cũng là di sản vô giá của đất nước.

Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature); Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (EVN), Trung tâm Bảo tồn Động vật Hoang dã tại Việt Nam (SVW); Trung tâm Nghiên cứu quản trị tài nguyên vùng cao (CERGON); Trung tâm hành động vì động vật hoang dã (WildAct); Trung tâm Công nghệ và Bảo tồn thiên nhiên (CTNC); Trung tâm Môi trường và Phát triển nguồn lực cộng đồng (CECAD) vừa có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ cùng nhiều cơ quan trung ương, kiến nghị xem xét thận trọng việc sắp xếp, sáp nhập các ban quản lý vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn biển và đất ngập nước quan trọng trong quá trình tinh gọn đơn vị sự nghiệp công lập. Kiến nghị được đưa ra trong bối cảnh Chính phủ triển khai Nghị quyết 105/NQ-CP về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu quả.

Nguyễn Hoài

Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/gop-vuon-quoc-gia-de-giam-dau-moi-lieu-co-danh-doi-an-ninh-sinh-thai-post1846320.tpo