Góp ý hoàn thiện các dự án luật, bảo đảm tính khả thi và quyền lợi người dân
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, chiều 26/10, đồng chí Trần Vũ Khiêm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh đồng chủ trì phiên thảo luận tại tổ với sự tham gia của ĐBQH các đoàn Quảng Trị, Đồng Nai, Điện Biên. Các đại biểu đã tập trung góp ý về các dự án: Luật An ninh dữ liệu; Luật Định danh và xác thực điện tử; Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi).

Quang cảnh phiên thảo luận - Ảnh: C.T.V
Các ý kiến góp ý dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) tập trung vào việc hoàn thiện các quy định về thời hiệu xử phạt, mức phạt tiền tối đa và các biện pháp cưỡng chế, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, đề nghị đẩy mạnh chuyển đổi số, phân cấp thẩm quyền phù hợp, gắn với bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Hoàn thiện quy định xử phạt vi phạm hành chính, bảo đảm tính khả thi và quyền lợi người dân
Góp ý dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), đồng chí Trần Vũ Khiêm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh, đề nghị rà soát quy định về thời hiệu, mức phạt và biện pháp cưỡng chế, bảo đảm tính khả thi khi chuyển đổi số và phân cấp thẩm quyền.

Đồng chí Trần Vũ Khiêm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh thảo luận về dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) - Ảnh: C.T.V
Đối với đề xuất kéo dài thời hiệu xử phạt lên 3 năm ở một số lĩnh vực, đồng chí Trần Vũ Khiêm đề nghị cân nhắc, nhất là với giao thông đường bộ và các lĩnh vực có vi phạm dễ phát hiện. Theo đồng chí, cần giữ nguyên thời hiệu 2 năm ở những lĩnh vực này, chỉ mở rộng khi có căn cứ thực tiễn, phù hợp với đặc thù và yêu cầu xác minh của từng lĩnh vực.
Về đề xuất nâng mức phạt tiền tối đa lên 1,5 tỉ đồng đối với cá nhân và 3 tỉ đồng đối với tổ chức, đồng chí đề nghị đánh giá tính khả thi, tránh mức phạt vượt khả năng chi trả. Theo đồng chí, mức phạt cần phân hóa theo tính chất, mức độ vi phạm và lỗi cố ý, vô ý; đồng thời chú trọng khắc phục hậu quả, thu hồi lợi ích bất hợp pháp và áp dụng chế tài phi tiền tệ. Hiệu quả xử phạt cần được đánh giá qua khả năng ngăn ngừa, giảm thiểu vi phạm, không chỉ dựa vào số tiền thu được.
Đối với các biện pháp cưỡng chế như ngừng cung cấp điện, nước, internet và viễn thông, đồng chí cho rằng cần thiết để bảo đảm thi hành quyết định hành chính nhưng phải tránh ảnh hưởng đến bên thứ ba không có lỗi, nhất là tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh chung hạ tầng với khu dân cư. Đồng chí kiến nghị quy định rõ nguyên tắc không áp dụng các biện pháp này tại những địa điểm có nguy cơ trực tiếp xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bên thứ ba không có lỗi.
Đối với việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử thông qua VNeID, đồng chí đánh giá đây là bước tiến trong hiện đại hóa quản lý nhà nước, nhưng cần bảo đảm hạ tầng kỹ thuật và cơ sở dữ liệu đồng bộ trước khi triển khai. Đồng chí đề nghị luật hóa tiêu chí, phương thức đánh giá và xác nhận điều kiện hạ tầng, tránh áp dụng tùy nghi giữa các địa phương, bảo đảm thống nhất và công bằng cho người dân.
Về đề xuất giao Chủ tịch UBND cấp xã thẩm quyền áp dụng các biện pháp cai nghiện bắt buộc, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đồng chí lưu ý thách thức về năng lực thực thi trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Theo đồng chí, cần xem xét chặt chẽ các biện pháp liên quan đến tước quyền tự do, đồng thời bảo đảm nguồn lực, cơ sở vật chất và biên chế tương xứng khi phân cấp, tránh quá tải, hạn chế sai sót và bảo đảm quyền con người.
Kiến nghị sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính gắn với bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Đồng chí Nguyễn Minh Tâm, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh thảo luận về dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) - Ảnh: C.T.V
Đồng chí Nguyễn Minh Tâm, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh cơ bản thống nhất với sự cần thiết sửa đổi toàn diện luật nhằm khắc phục bất cập, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Đồng chí đề nghị hài hòa giữa tăng cường kỷ luật, kỷ cương và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Đồng chí Nguyễn Minh Tâm cho rằng, việc kéo dài thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính cần căn cứ vào tính chất từng loại vi phạm, tương đồng với ý kiến của đồng chí Trần Vũ Khiêm về việc giữ nguyên thời hiệu 2 năm đối với giao thông đường bộ và các lĩnh vực dễ phát hiện vi phạm. Thời hiệu 3 năm chỉ nên áp dụng với các hành vi nghiêm trọng, khó phát hiện, có thủ đoạn che giấu hoặc gây hậu quả kéo dài; đồng thời cần làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý, tránh chậm xử lý, giảm tính răn đe và gia tăng rủi ro pháp lý cho người dân, doanh nghiệp.
Ý kiến đánh giá cao việc ứng dụng công nghệ trong xử lý vi phạm hành chính, đồng thời đề nghị làm rõ giá trị pháp lý của chứng cứ điện tử, bảo đảm quyền giải trình, khiếu nại, khởi kiện và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bên cạnh đó cần có phương thức xử lý thay thế cho người khó tiếp cận công nghệ, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm chuyển đổi số tạo thuận lợi, không phát sinh thêm nghĩa vụ hay hạn chế quyền của người dân.
Về mức phạt tiền tối đa, đồng chí Nguyễn Minh Tâm đề nghị bảo đảm mức phạt tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm và khả năng thực thi. Đối với đề xuất tăng mức phạt tại thành phố trực thuộc Trung ương, cần cân nhắc đặc thù từng khu vực, tránh chênh lệch bất hợp lý và bảo đảm thống nhất với cơ chế xử phạt theo Luật Thủ đô năm 2026.
Về thẩm quyền đưa người vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đồng chí Nguyễn Minh Tâm đề nghị giữ thẩm quyền quyết định của Tòa án nhân dân, đồng thời đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian giải quyết và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, bảo đảm hiệu quả xử lý và quyền con người.
Đề xuất cơ chế bảo vệ lực lượng thi hành công vụ khi xảy ra sự cố kỹ thuật

Đồng chí Nguyễn Thanh Liêm, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh thảo luận về dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) - Ảnh: C.T.V
Đồng chí Nguyễn Thanh Liêm, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh cho rằng, việc sử dụng thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm là xu thế tất yếu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm tính khách quan. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn bất cập khi hạ tầng, thiết bị gặp sự cố. Chẳng hạn, đèn tín hiệu giao thông hỏng có thể phải chờ kinh phí sửa chữa; thiết bị nghiệp vụ cần kiểm định phải gửi đến Hà Nội hoặc TP. Hồ Chí Minh, mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến quá trình thực thi nhiệm vụ.
Từ thực tế đó, đồng chí Nguyễn Thanh Liêm kiến nghị bổ sung quy định loại trừ trách nhiệm đối với người vi phạm và người thi hành công vụ trong trường hợp sự cố kỹ thuật chưa được khắc phục ảnh hưởng đến việc phát hiện, xử lý vi phạm. Quy định cần làm rõ điều kiện áp dụng và trách nhiệm các bên, vừa bảo đảm xử lý đúng bản chất vụ việc, vừa hạn chế rủi ro pháp lý, khiếu nại, khởi kiện đối với lực lượng chức năng do những sự cố nằm ngoài khả năng kiểm soát.
Về khối lượng công việc và kinh phí hoạt động, đồng chí Nguyễn Thanh Liêm cho biết, lực lượng công an xử lý chiếm gần 94% số vụ vi phạm hành chính tại Quảng Trị. Do đó, cần bảo đảm đủ nhân lực, trang thiết bị và kinh phí phục vụ công tác. Đồng chí thống nhất bỏ cơ chế trích tỉ lệ phần trăm từ tiền thu xử phạt vi phạm hành chính để phù hợp với Luật Ngân sách nhà nước, đồng thời đề nghị ngân sách Trung ương và địa phương chủ động bố trí kinh phí tối thiểu, bảo đảm điều kiện làm việc và nguồn lực cần thiết cho lực lượng thi hành công vụ.
Làm rõ trách nhiệm người đứng đầu, hoàn thiện quy định về xử phạt vi phạm hành chính
Đồng chí Ly Kiều Vân, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy đề nghị làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu, hoàn thiện quy định về công khai thông tin vi phạm và cân nhắc tác động của các biện pháp cưỡng chế đến quyền lợi của người dân.

Đồng chí Ly Kiều Vân, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy thảo luận về dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) - Ảnh: C.T.V
Về trách nhiệm người đứng đầu trong xử phạt vi phạm hành chính, đồng chí đề nghị làm rõ căn cứ xác định trách nhiệm, bảo đảm thống nhất với pháp luật về phòng, chống tham nhũng và bổ sung quy định tương ứng vào các hành vi bị nghiêm cấm.
Đối với Điều 29 về các biện pháp khắc phục hậu quả, đồng chí đề nghị sửa đổi quy định tại điểm k khoản 1 theo hướng bổ sung thẩm quyền quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bên cạnh Chính phủ, bảo đảm thống nhất với quy định tại khoản 3 Điều 4 của dự thảo luật.
Về công khai thông tin vi phạm trên môi trường số, đồng chí đề nghị làm rõ tiêu chí xác định hành vi “gây ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội”, bổ sung giải thích thuật ngữ tại Điều 2, đồng thời rà soát quy định về hình thức, địa điểm công khai để bảo đảm thống nhất với pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Về biện pháp cưỡng chế ngừng cung cấp điện, nước, đồng chí Ly Kiều Vân có ý kiến tương đồng với đồng chí Trần Vũ Khiêm về việc cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba không có lỗi. Đồng chí lưu ý các cơ sở sản xuất, kinh doanh kết hợp nhà ở, nơi việc ngừng cung cấp điện, nước có thể ảnh hưởng đến sinh hoạt thiết yếu của người già, trẻ em và những người không liên quan đến vi phạm.
Điều chỉnh quy định xử phạt vi phạm giao thông, bảo đảm công bằng và phù hợp thực tiễn

Đồng chí Nguyễn Khánh Vũ, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Quảng Trị thảo luận về dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) - Ảnh: C.T.V
Đồng chí Nguyễn Khánh Vũ, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Quảng Trị đề xuất điều chỉnh nhiều quy định liên quan đến thời hiệu xử phạt vi phạm giao thông, mức phạt tiền, xử phạt qua phương tiện kỹ thuật và áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên, nhằm bảo đảm tính công bằng, khả thi và phù hợp thực tiễn.
Đối với đề xuất kéo dài thời hiệu xử phạt vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ từ 1 năm lên 3 năm, đồng chí Trần Khánh Vũ thống nhất với ý kiến của các đồng chí Trần Vũ Khiêm và Nguyễn Minh Tâm, cho rằng việc kéo dài chưa thực sự cần thiết, có thể khiến vi phạm dồn tích, tiền phạt vượt khả năng chi trả và gây khó khăn trong xác định người điều khiển phương tiện. Đồng chí cũng lưu ý nguyên nhân xuất phát từ bất cập trong dữ liệu đăng ký, chuyển nhượng phương tiện, cần được khắc phục thay vì kéo dài thời hiệu xử phạt. Đồng chí cũng kiến nghị giữ thời hiệu xử phạt 1 năm, chỉ xác định hành vi trốn tránh khi người vi phạm đã nhận được thông báo.
Bên cạnh đó, đồng chí Nguyễn Khánh Vũ kiến nghị bổ sung tình tiết giảm nhẹ cho người vi phạm lần đầu, không gây hậu quả và người dân ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo. Đồng thời, đề xuất cho phép áp dụng mức phạt dưới khung tối thiểu khi có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và khuyến khích tự nguyện nộp phạt sớm.
Đối với vi phạm phát hiện qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, ý kiến yêu cầu thông báo kịp thời, cung cấp đầy đủ chứng cứ và làm rõ thời hạn chấp hành quyết định xử phạt. Đồng thời, chỉ xử phạt không lập biên bản khi đã xác định được người vi phạm và đủ căn cứ chứng minh hành vi; thông báo phải kèm chứng cứ và được gửi trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi phát hiện vi phạm.
Đặc biệt, cần bổ sung quy định không xử phạt nếu hành vi vi phạm xuất phát từ hệ thống báo hiệu giao thông không bảo đảm quy chuẩn, bị hư hỏng, che khuất hoặc thiếu thống nhất khiến người tham gia giao thông không thể nhận biết.
Đối với người chưa thành niên, đồng chí đề nghị giữ thời hạn xem xét vi phạm ở mức 6 tháng, giảm thời hạn đưa vào trường giáo dưỡng còn 6-18 tháng và bổ sung các biện pháp thay thế như xin lỗi người bị hại, khắc phục hậu quả, tham vấn tâm lý, giáo dục kỹ năng sống tại cộng đồng.
Đề nghị tránh chồng chéo pháp luật, tăng cường bảo vệ an ninh dữ liệu

Đồng chí Nguyễn Ngọc Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại thảo luận về dự thảo Luật An ninh dữ liệu - Ảnh: C.T.V
Góp ý dự thảo Luật An ninh dữ liệu, đồng chí Nguyễn Ngọc Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại, đánh giá việc xây dựng luật là bước tiến quan trọng nhằm chủ động bảo vệ dữ liệu trước những nguy cơ mới trong kỷ nguyên số. Đồng chí nhấn mạnh sự cần thiết phải phân định rõ phạm vi điều chỉnh, tránh chồng chéo với các luật liên quan, đồng thời hoàn thiện quy định về dữ liệu quốc phòng và chuyển dữ liệu xuyên biên giới.
Theo đồng chí, trong bối cảnh dữ liệu ngày càng quan trọng và được điều chỉnh bởi nhiều luật, Luật An ninh dữ liệu cần tập trung bảo vệ toàn bộ vòng đời dữ liệu trước các nguy cơ như đầu độc dữ liệu huấn luyện AI, tấn công hạ tầng xử lý dữ liệu và chủ động ứng phó với thách thức công nghệ tương lai.
Về nguyên tắc áp dụng pháp luật tại Điều 3, đồng chí cho rằng quy định ưu tiên áp dụng Luật An ninh dữ liệu có thể gây xung đột pháp luật. Do đó, đề nghị bỏ khoản 1, đồng thời rà soát, phân loại và làm rõ khoản 2 nhằm bảo đảm tính thống nhất, hạn chế chồng chéo giữa các luật.
Đối với thẩm quyền thẩm định an ninh dữ liệu quốc phòng tại Điều 11, đồng chí kiến nghị giao Bộ Quốc phòng chủ trì thẩm định các hệ thống xử lý dữ liệu cốt lõi của quốc phòng, bảo đảm bao quát dữ liệu tại các đơn vị quân sự địa phương và hệ thống công nghiệp quốc phòng.
Về Điều 19, đồng chí cho rằng việc cho phép người đứng đầu quyết định chuyển dữ liệu cấp độ 4, 5 ra nước ngoài chưa bảo đảm yêu cầu an ninh. Đồng chí đề nghị quy định việc chuyển các dữ liệu này phải được cơ quan chuyên trách chấp thuận nhằm tăng cường kiểm soát, phòng ngừa rủi ro.
Hoàn thiện quy định về xác thực điện tử, bảo đảm an toàn và trách nhiệm pháp lý

Đồng chí Nguyễn Thanh Liêm, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh thảo luận về dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử - Ảnh: C.T.V
Góp ý dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử, đồng chí Nguyễn Thanh Liêm, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh, tập trung vào đối tượng, mô hình, mức độ xác thực điện tử. Đồng chí nhấn mạnh sự cần thiết của luật nhằm thống nhất cơ sở pháp lý, nâng cao độ tin cậy giao dịch điện tử, ngăn ngừa gian lận và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.
Về đối tượng xác thực điện tử, đồng chí đánh giá việc gắn xác thực với danh tính điện tử đã được tạo lập và cấp mã định danh là phù hợp, bảo đảm tính liên tục trong sử dụng danh tính. Dự thảo cũng phân định giá trị xác thực theo từng nhóm đối tượng, tạo cơ sở kiểm chứng thông tin, xác định mối liên kết và phục vụ quản lý nhà nước.
Đối với các mô hình xác thực điện tử, dự thảo quy định ba mô hình gồm tập trung, trung gian và độc lập. Theo đồng chí, việc đa dạng hóa mô hình tạo điều kiện ứng dụng công nghệ linh hoạt, đáp ứng nhu cầu giao dịch, đồng thời gắn với trách nhiệm kiểm tra phương tiện, ghi nhận và lưu trữ kết quả. Các quy định về nhật ký xác thực, khả năng đối soát và truy vết góp phần bảo đảm an toàn, độ tin cậy và xác định trách nhiệm khi phát sinh tranh chấp.
Về mức độ xác thực điện tử, đồng chí đánh giá việc thiết lập 3 mức độ theo loại, số lượng và phương thức xác thực giúp đáp ứng yêu cầu của từng giao dịch. Cơ chế phân quyền quyết định mức độ xác thực giữa cơ quan quản lý chuyên ngành và bên sử dụng cũng bảo đảm yêu cầu quản lý, đồng thời tạo sự linh hoạt khi triển khai.

