GS gốc Việt chế tạo robot được NASA dùng xây trạm không gian
GS Charles Cường Nguyễn chế tạo thành công cánh tay robot cho NASA xây ISS, mở ra nhiều hợp tác giáo dục Việt - Mỹ và nhận giải Thành tựu trọn đời tại Mỹ.
Chế tạo thành công cánh tay robot phục vụ xây dựng trạm không gian
Cuối những năm 1980, khi Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) chuẩn bị triển khai chương trình xây dựng Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS), việc lắp ráp các cấu kiện ngoài không gian là một thách thức kỹ thuật lớn. Một phương án là để các phi hành gia trực tiếp thực hiện các thao tác ngoài khoảng không vũ trụ; phương án còn lại là sử dụng robot. Trong bối cảnh công nghệ robot khi ấy vẫn còn ở giai đoạn phát triển, GS Charles Nguyễn Cường là một trong những người đầu tiên đề xuất NASA lựa chọn giải pháp thứ hai.

GS Charles Nguyễn Cường. Ảnh: Internet.
Khi đang giảng dạy tại Trường Catholic University of America (Mỹ), ông đã xây dựng đề án gửi NASA, đề xuất sử dụng robot để tham gia xây dựng trạm không gian. Theo tính toán của ông, để có thể lắp ráp các cấu kiện trong môi trường không trọng lực, cánh tay robot phải đạt độ chính xác tới 0,01 mm. Đề xuất này được NASA chấp nhận và tài trợ khoảng 1,4 triệu USD để nhóm nghiên cứu triển khai.
Theo chia sẻ của ông, trong 10 năm nghiên cứu, ông cùng các nghiên cứu sinh và học viên cao học đã phát triển thành công cánh tay robot đáp ứng yêu cầu về độ chính xác. Công nghệ này sau đó được NASA sử dụng trong chương trình xây dựng Trạm Vũ trụ Quốc tế, góp phần khẳng định tính khả thi của việc ứng dụng robot trong các nhiệm vụ lắp ráp ngoài không gian.
Không chỉ dừng lại ở lĩnh vực hàng không vũ trụ, nền tảng công nghệ của cánh tay robot còn được Không quân Mỹ ứng dụng để phát triển robot nạp bom cho máy bay chiến đấu.
Được vinh danh giải thưởng Thành tựu trọn đời tại Mỹ
GS Charles Cường Nguyễn sinh năm 1954 tại Đà Nẵng. Năm 1972, khi mới 16 tuổi, ông tốt nghiệp trung học tại Việt Nam và sang Cộng hòa Liên bang Đức du học ngành kỹ thuật. Sau khi tốt nghiệp kỹ sư, năm 1978 ông chuyển sang Mỹ định cư và tiếp tục học tại Đại học George Washington. Năm 1982, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và nhận bằng Tiến sĩ hạng ưu của trường.
GS Charles Cường Nguyễn từng đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng tại các trường đại học Mỹ. Từ năm 1997 đến 2001, ông là Trưởng Phân khoa Kỹ thuật và Điện toán của Đại học Catholic University of America, trước khi được bổ nhiệm làm Trưởng khoa của trường đào tạo kỹ sư. Đây là một trong những dấu mốc đáng chú ý của giới học thuật người Việt tại Mỹ.
Năm 2004, GS Charles Cường Nguyễn được Tổng thống Mỹ George W. Bush bổ nhiệm vào Ban Giám đốc Quỹ Giáo dục Việt Nam (Vietnam Education Foundation – VEF). Trên cương vị này, ông tích cực thúc đẩy hợp tác giáo dục và nghiên cứu giữa các trường đại học của Mỹ và Việt Nam, góp phần mở rộng các chương trình chuyển tiếp, học bổng và trao đổi học thuật cho sinh viên, giảng viên Việt Nam.
Năm 2009 Liên hội Kỹ sư và Kiến trúc sư vùng Thủ đô Washington trao tặng ông Giải Thành tựu trọn đời (Lifetime Achievement Award). Đây là giải thưởng cao nhất của tổ chức, dành cho những nhà khoa học và kỹ sư có những cống hiến nổi bật cho sự phát triển của khoa học, công nghệ và cộng đồng.
Chia sẻ về những năm đầu lập nghiệp ở nước ngoài, GS Charles Cường Nguyễn cho biết giai đoạn khó khăn nhất là khi bắt đầu cuộc sống tại Cộng hòa Liên bang Đức rồi sau đó là Mỹ. Cũng như nhiều người Việt xa xứ, ông phải vượt qua rào cản ngôn ngữ, khác biệt văn hóa và cả những định kiến đối với người nhập cư.
Trong nhiều năm, GS Charles Cường Nguyễn đã tích cực thúc đẩy hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Một trong những dấu ấn nổi bật là chương trình liên kết đào tạo "2+2", theo đó sinh viên học hai năm đầu tại các trường đại học đối tác ở Việt Nam trước khi chuyển tiếp sang Đại học Catholic University of America (CUA) để hoàn thành hai năm cuối và nhận bằng kỹ sư.
GS Charles Cường Nguyễn cho biết, ông luôn coi mình là một người Việt Nam. Theo ông, thành công chỉ thực sự có ý nghĩa khi có thể góp phần đền đáp quê hương. Chính suy nghĩ ấy đã thôi thúc ông nhiều năm qua dành tâm huyết kết nối các chương trình hợp tác giáo dục, tạo thêm cơ hội để sinh viên Việt Nam sang Mỹ học tập và nghiên cứu.












