GS Tạ Quang Bửu, huyền thoại 'bộ óc Lê Quý Đôn thời nay'

GS Tạ Quang Bửu được ví là 'bộ óc Lê Quý Đôn thời nay', người đặt móng cho giáo dục đại học và là nhà khoa học quân sự lỗi lạc.

Đánh giá về GS Tạ Quang Bửu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Công lao của anh Tạ Quang Bửu, là một nhà khoa học giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, ngay từ những ngày chiến đấu còn đầy gian khổ, khó khăn, anh đã quan tâm đến công tác khoa học trong các lực lượng vũ trang, chẳng những đối với ngành Quân giới mà cả Quân y và các ngành khác...”..

Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số thành viên Hội đồng Chính phủ kháng chiến 1947 (GS Tạ Quang Bửu ở hàng đứng, thứ 2 từ phải sang). Ảnh tư liệu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số thành viên Hội đồng Chính phủ kháng chiến 1947 (GS Tạ Quang Bửu ở hàng đứng, thứ 2 từ phải sang). Ảnh tư liệu.

Sự uyên bác huyền thoại, khiến thiếu tá tình báo Mỹ “kinh ngạc”

GS Tạ Quang Bửu (1910 – 1986) sinh trưởng trong một gia đình nhà giáo tại thôn Hoành Sơn, xã Thiên Nhẫn, Nghệ An. Ngay từ thuở thiếu thời, tài năng của ông đã sớm bộc lộ một cách kinh ngạc.

GS Tạ Quang Bửu sau khi dự trại huấn luyện Hướng đạo sinh ở Anh năm 1938. Ảnh tư liệu: ND.

GS Tạ Quang Bửu sau khi dự trại huấn luyện Hướng đạo sinh ở Anh năm 1938. Ảnh tư liệu: ND.

Mới 7 tuổi, "cậu Bửu" đã nổi danh học giỏi khi đỗ cao trong kỳ thi chữ Hán, Việt văn và Toán tại phủ Tam Kỳ, Quảng Nam. Sau đó, ông tiếp tục theo học tại Trường Quốc học Huế, rồi ra Hà Nội học trường Bưởi. Năm 1929, sau khi đỗ đầu cả tú tài Việt và tú tài Tây ở cả hai ban Toán và Triết, ông nhận học bổng sang Pháp du học, bắt đầu hành trình chinh phục những đỉnh cao khoa học thế giới.

Tại Paris, GS Tạ Quang Bửu đã tiếp xúc với những nhà toán học lớn của Pháp và tham gia nhóm Nicolas Bourbaki lừng danh. Ông theo học chương trình cử nhân khoa học tại Đại học Sorbonne, học Toán tại Paris và Bordeaux, rồi sang Đại học Oxford (Anh) để nghiên cứu vật lý lượng tử.

Đáng chú ý, dù sở hữu khối lượng kiến thức khổng lồ, ông chỉ lấy duy nhất bằng cử nhân toán học. Vì ông học cứ gần hết giáo trình rồi lại xin chuyển sang ngành khác để thâu tóm tối đa kiến thức nhân loại trước khi về nước.

Sự uyên bác của ông không chỉ nằm ở bằng cấp mà ở năng lực tự học "gần như là một thiên huyền thoại". Thiếu tá tình báo Mỹ Archimedes LA Patti khi viết về những người và sự kiện ở Hà Nội trong tháng 9/1945 trong cuốn hồi ký Why Vietnam? đã bày tỏ sự ngạc nhiên thú vị khi gặp GS Bửu: "Ông nói tiếng Anh hoàn hảo với giọng đặc Oxford, không lơ lớ chút nào, khiến tôi sững sờ kinh ngạc".

Không chỉ tinh thông tiếng Anh và Pháp, GS Tạ Quang Bửu còn sử dụng được tiếng Đức, đọc dịch tiếng Nga, Ba Lan, tiếng Hy Lạp cổ, La-tinh và là một nhà "cổ học" thực thụ khi đọc nguyên bản Hán ngữ các tác phẩm kinh điển của Nho gia, Đạo gia.

Người đặt nền móng cho giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học Việt Nam

GS Tạ Quang Bửu là một trong những nhà lãnh đạo có đóng góp đặc biệt quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của nền giáo dục đại học cũng như khoa học kỹ thuật Việt Nam hiện đại.

Năm 1956, ông trở thành Hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Bách khoa Hà Nội và đảm nhiệm cương vị này đến năm 1961. Trong giai đoạn đầu xây dựng nhà trường, GS Tạ Quang Bửu đã đặt những nền móng quan trọng về tổ chức, đào tạo và nghiên cứu khoa học, góp phần đưa Đại học Bách khoa Hà Nội trở thành trung tâm đào tạo kỹ thuật hàng đầu của đất nước.

Từ năm 1958 đến năm 1965, ông đồng thời giữ chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước, trực tiếp tham gia hoạch định các chính sách phát triển khoa học và công nghệ quốc gia. Đây được xem là thời kỳ đặt nền tảng cho sự phát triển của nhiều ngành khoa học và kỹ thuật Việt Nam.

Từ năm 1965 đến năm 1976, GS Tạ Quang Bửu là Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Trong bối cảnh đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh, ông đã đề xuất quan điểm giáo dục mang tính chiến lược: tập trung giảng dạy những kiến thức cơ bản nhất, hiện đại nhất và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

Trên cơ sở đó, ông chỉ đạo cải tiến chương trình đào tạo, tập hợp đội ngũ các nhà khoa học, chuyên gia và nhà sư phạm xuất sắc để biên soạn hệ thống giáo trình mới. Đồng thời, ông tổ chức nhiều hội thảo chuyên đề về giáo dục đại học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập trong các trường đại học.

Ông đề ra triết lý giáo dục "Cơ bản - Hiện đại - Việt Nam", một tư tưởng mà đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự. Với tầm nhìn chiến lược, ông đã chỉ đạo thành lập nhiều ngôi trường danh tiếng như Đại học Xây dựng, Đại học Mỏ - Địa chất và Học viện Kỹ thuật Quân sự.

GS Tạ Quang Bửu cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm Viện Toán học (1986). Ảnh tư liệu: ND.

GS Tạ Quang Bửu cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm Viện Toán học (1986). Ảnh tư liệu: ND.

GS Tạ Quang Bửu được ví như một "bình thông nhau", là người kết nối khoa học Việt Nam với thế giới. Ngay trong khói lửa chiến tranh, ông đã mời các nhà toán học đạt huy chương Fields như Laurent Schwartz, Alexandre Grothendieck sang giảng dạy tại Việt Nam.

Một trong những dấu ấn lớn nhất của GS Tạ Quang Bửu là chủ trương đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật và cán bộ quản lý chất lượng cao cho tương lai. Trong những năm chiến tranh, khi hàng nghìn thanh niên lên đường bảo vệ Tổ quốc, cũng có hàng nghìn người được cử đi học tập và nghiên cứu ở nước ngoài. GS Tạ Quang Bửu kiên trì quan điểm lựa chọn nhân tài dựa trên năng lực học tập và nghiên cứu, không phân biệt xuất thân hay hoàn cảnh gia đình, thông qua các kỳ thi tuyển nghiêm túc và công bằng.

Nhờ chủ trương này, hàng vạn thanh niên Việt Nam đã có cơ hội tiếp cận nền khoa học tiên tiến của thế giới, trở thành lực lượng nòng cốt gồm các nhà khoa học, chuyên gia và nhà quản lý tài năng, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong nhiều thập niên sau đó.

Biến trí tuệ thành "vũ khí" lợi hại trên mặt trận khoa học quân sự

Dù ở vị trí nào, GS Tạ Quang Bửu cũng luôn thể hiện là một trí thức, nhà khoa học xuất sắc. Một trong những dấu ấn lớn nhất của ông là việc ký Hiệp định Geneva năm 1954. Tại bàn đàm phán, nhờ am hiểu địa lý sâu sắc, ông đã đề nghị lấy sông Bến Hải làm giới tuyến thay vì sông Gianh, giúp tận dụng tối đa lợi thế cho miền Bắc.

GS Tạ Quang Bửu ký Hiệp định Geneva năm 1954. Ảnh tư liệu.

GS Tạ Quang Bửu ký Hiệp định Geneva năm 1954. Ảnh tư liệu.

Năm 1947, GS Tạ Quang Bửu đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, sau đó là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng từ năm 1948. Trí tuệ của GS Tạ Quang Bửu trở thành "vũ khí" lợi hại trên mặt trận khoa học quân sự.

Trên cương vị phụ trách công tác hành chính quân sự, trang bị và sản xuất quốc phòng, ông đã cùng cán bộ, chiến sĩ và các cơ quan chuyên môn nghiên cứu, cải tiến, chế tạo nhiều loại vũ khí, đạn dược, trang bị quân dụng phục vụ kháng chiến. Ông cũng chủ trương thành lập thêm Cục Pháo binh, Cục Công binh thuộc Bộ Quốc phòng, cùng Ban Nghiên cứu Không quân và Ban Nghiên cứu Thủy quân phòng thuộc Bộ Tổng Tham mưu.

Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Bộ Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ký Hiệp định Geneve, tháng 7/1954. Ảnh tư liệu.

Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Bộ Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ký Hiệp định Geneve, tháng 7/1954. Ảnh tư liệu.

Đặc biệt, với tư cách là một nhà khoa học, ông không chỉ trực tiếp nghiên cứu mà còn truyền cảm hứng, kiến tạo và tổ chức nhiều nhóm nghiên cứu nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Nhờ năng lực tự học xuất sắc, thông thạo nhiều ngoại ngữ và có kiến thức uyên thâm ở nhiều lĩnh vực, ông đã nghiên cứu, biên soạn và phổ biến nhiều công trình như Bắn máy bay bằng súng trường tập trung, Thống kê thường thức, Vật lý cương yếu, Nguyên tử - Hạt nhân - Vũ trụ tuyến, Sống, Đại số các toán tử, các lý thuyết hệ thống và Hạt cơ bản.

Đây là những công trình phổ biến khoa học có giá trị học thuật cao, mang tính gợi mở, định hướng và mở đường cho sự phát triển của khoa học Việt Nam, giúp nhiều thế hệ nhà khoa học tiếp cận với thuyết tương đối, lý thuyết mật mã di truyền, toán học lý thuyết và khoa học vũ trụ.

Với vai trò một nhà khoa học ứng dụng xuất sắc, ông còn trực tiếp chỉ đạo và cùng GS Trần Đại Nghĩa, TS Vũ Đình Cự cùng đội ngũ kỹ sư, nhà kỹ thuật nghiên cứu, chế tạo thành công nhiều loại vũ khí, đạn dược như súng không giật SKZ, đạn bazooka, bom bay trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Đồng thời nghiên cứu chế tạo các loại khí tài phá thủy lôi, khí tài gây nhiễu và nhiều trang bị kỹ thuật khác trong thời kỳ chống Mỹ.

Năm 1996, GS Tạ Quang Bửu được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về khoa học công nghệ với tập hợp các công trình Giới thiệu khoa học kỹ thuật hiện đại (sau 1945); Chỉ đạo các nhiệm vụ quan trọng trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Bài viết nằm trong tuyến bài "Chân dung nhà khoa học" Hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Liên hiệp Hội Việt Nam, nhiệm kỳ 2026–2031.

Mai Loan

Nguồn Tri Thức & Cuộc Sống: https://kienthuc.net.vn/gs-ta-quang-buu-huyen-thoai-bo-oc-le-quy-don-thoi-nay-post1619084.html