GS Trần Đại Nghĩa: Cuộc trở về năm 1946 và trọng trách kiến tạo ngành Quân giới

Tháng 9/1946, trong chuyến công tác tại Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ nhiều trí thức Việt kiều, vận động họ trở về tham gia xây dựng đất nước. Trong số những người quyết định trở về có kỹ sư Phạm Quang Lễ khi ấy 33 tuổi đang làm việc tại Pháp.

LỜI TÒA SOẠN

Năm 1946, kỹ sư Phạm Quang Lễ từ bỏ sự nghiệp ở Pháp, trở về phụng sự Tổ quốc theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn hai thập kỷ sau, nhà khoa học Nguyễn Văn Hiệu trở về từ Liên Xô, được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tin tưởng giao trọng trách xây dựng Viện Vật lý khi mới 31 tuổi. Những câu chuyện ấy không chỉ thể hiện khát vọng cống hiến của trí thức Việt Nam mà còn cho thấy tầm nhìn trong phát hiện, tập hợp và trọng dụng nhân tài.

Ngày nay, khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực quan trọng của phát triển, bài học ấy càng mang ý nghĩa thời sự. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra yêu cầu phát triển, trọng dụng nhân tài, xây dựng môi trường thuận lợi để đội ngũ trí thức phát huy năng lực, đóng góp cho đất nước.

Từ những người đặt nền móng cho khoa học nước nhà đến các thế hệ trí thức đang tiếp tục chinh phục những lĩnh vực nghiên cứu mới, câu hỏi xuyên suốt vẫn là: Làm thế nào để thu hút, trọng dụng người tài, biến khát vọng cống hiến thành những thành tựu khoa học phục vụ đất nước?

Qua những câu chuyện về các thế hệ trí thức Việt Nam, tuyến bài 5 kỳ của VietNamNet nhìn lại những bài học trong công tác sử dụng nhân tài, đồng thời gợi mở những vấn đề về cơ chế, chính sách để trí tuệ Việt Nam thực sự trở thành nguồn lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tháng 9/1946, trong chuyến công tác tại Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ nhiều trí thức Việt kiều, vận động họ trở về tham gia xây dựng đất nước. Trong số những người quyết định trở về có kỹ sư Phạm Quang Lễ, khi ấy 33 tuổi, đang làm việc tại Pháp sau hơn một thập kỷ học tập và nghiên cứu ở châu Âu.

Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Phạm Quang Lễ sinh ngày 13/9/1913 tại Vĩnh Long. Năm 1935, ông sang Pháp du học. Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, ông làm việc trong lĩnh vực kỹ thuật hàng không và cơ khí, đồng thời chủ động tìm hiểu công nghệ chế tạo vũ khí.

Bài nghiên cứu về Trần Đại Nghĩa do Bảo tàng Lịch sử Quốc gia công bố năm 2015 cho biết, năm 1942, ông từng sang Đức làm việc tại xưởng chế tạo máy bay và cơ sở nghiên cứu vũ khí. Trong thời gian ở châu Âu, ngoài kiến thức chuyên môn, Phạm Quang Lễ còn tích lũy nhiều tài liệu về kỹ thuật quân sự, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến vũ khí bộ binh và thuốc nổ.

Một chi tiết được nhiều tài liệu lịch sử ghi lại là cuộc trao đổi giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phạm Quang Lễ trên đường trở về Việt Nam. Khi được hỏi liệu có chịu đựng được cuộc sống khó khăn trong nước hay không, ông trả lời có thể chịu được.

Trước câu hỏi về khả năng chế tạo vũ khí trong điều kiện thiếu kỹ sư, công nhân và máy móc, Phạm Quang Lễ đáp: “Thưa Bác, tôi đã chuẩn bị 11 năm rồi, tin tưởng là làm được!”. Lời kể này được Bảo tàng Lịch sử Quốc gia dẫn lại trong bài viết “Giáo sư Trần Đại Nghĩa với ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam”.

Ngày 16/9/1946, Phạm Quang Lễ cùng một số trí thức Việt kiều lên đường về nước theo Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc trở về diễn ra khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành lập được hơn một năm, đang phải đối mặt với tình hình chính trị, quân sự phức tạp và nguy cơ chiến tranh ngày càng hiện hữu.

Theo các tư liệu lịch sử, ông không phải người duy nhất trở về trong chuyến đi ấy. Cùng đoàn còn có kỹ sư Võ Quý Huân, bác sĩ Trần Hữu Tước và một số trí thức khác. Đây là những người được đào tạo tại châu Âu, sau đó tham gia công cuộc xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng trong những năm đầu độc lập.

Ngày 5/12/1946, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao kỹ sư Phạm Quang Lễ giữ chức Cục trưởng Cục Quân giới.

Tài liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho biết, trong cuộc gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Kháng chiến sắp đến nơi rồi, hôm nay Bác gọi chú đến để trao cho nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội diệt giặc”.

Cũng tại cuộc gặp này, Người đặt cho ông tên mới: Trần Đại Nghĩa. Các tư liệu giải thích, tên gọi ấy gắn với nhiệm vụ lớn lao được giao, đồng thời là bí danh nhằm bảo đảm bí mật, bảo vệ gia đình và người thân của ông còn ở miền Nam.

Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Theo tư liệu của Cục Di sản văn hóa về địa điểm Xưởng Quân giới tại Thái Nguyên, từ tháng 6/1946, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã giao ngành Quân giới nghiên cứu sản xuất súng chống tăng Bazooka. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu gặp nhiều trở ngại về kỹ thuật và vật liệu.

Sau khi trở về nước, ông Trần Đại Nghĩa tiếp quản chương trình nghiên cứu này, tập trung giải quyết những vấn đề còn tồn tại. Đóng góp của ông Trần Đại Nghĩa nằm ở việc vận dụng kiến thức chuyên sâu, tổ chức nghiên cứu và cùng các cộng sự giải quyết những trở ngại kỹ thuật để hoàn thiện sản phẩm.

Trong điều kiện chiến tranh, các xưởng quân giới phải vừa nghiên cứu, vừa chế tạo, vừa bảo đảm an toàn và đáp ứng yêu cầu của chiến trường. Tư liệu của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết, ông Trần Đại Nghĩa đã tính toán lại các thông số kỹ thuật, nghiên cứu điều chỉnh thuốc phóng và tìm cách vận dụng những kiến thức thu nhận ở nước ngoài vào điều kiện vật liệu thực tế tại Việt Nam.

Công việc ấy có sự tham gia của cán bộ kỹ thuật, công nhân và chiến sĩ ngành Quân giới.

Tháng 2/1947, sau quá trình nghiên cứu và thử nghiệm, súng Bazooka do ngành Quân giới Việt Nam chế tạo đã thành công. Theo Cục Di sản văn hóa, sản phẩm được phát triển trên cơ sở kiểu mẫu Bazooka của Mỹ, với những điều chỉnh về kỹ thuật để phù hợp điều kiện sản xuất trong nước.

Tài liệu của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ghi nhận, cuối tháng 2/1947, dưới sự chỉ đạo kỹ thuật của Cục trưởng Trần Đại Nghĩa, cán bộ, chiến sĩ quân giới đã chế tạo thành công loại vũ khí này.

Ngày 3/3/1947, Bazooka được sử dụng trong trận đánh chống lực lượng thiết giáp Pháp ở khu vực phía tây Hà Nội. Theo tư liệu của Viện Hàn lâm, súng Bazooka đã bắn cháy hai xe tăng Pháp tại khu vực Sơn Lộ, Quốc Oai, góp phần ngăn chặn cuộc hành quân bằng xe thiết giáp của đối phương.

Sự kiện này được ghi nhận là một dấu mốc trong quá trình phát triển ngành Quân giới Việt Nam. Sau Bazooka, ông Trần Đại Nghĩa tiếp tục cùng các cộng sự nghiên cứu loại vũ khí mới phục vụ yêu cầu đánh công sự kiên cố.

Trong bài nghiên cứu “Trần Đại Nghĩa dưới góc nhìn Sử học”, đăng trên Tạp chí của Viện Sử học, các tác giả đề cập đến quá trình nghiên cứu súng không giật SKZ. Theo đó, sau hội nghị chuyên môn ngành Quân giới năm 1948, ông Trần Đại Nghĩa cùng các ông Nguyễn Trinh Tiếp, Lê Tâm và nhiều cộng sự triển khai nghiên cứu loại vũ khí này.

Khác với Bazooka vốn có mẫu tham khảo, quá trình chế tạo SKZ gặp khó khăn lớn hơn do phải tự xây dựng nhiều giải pháp kỹ thuật. Sau khoảng bảy tháng nghiên cứu, cuối tháng 5/1949, súng và đạn SKZ được hoàn thiện, bắn thử thành công tại thành cổ Tuyên Quang. Tài liệu nghiên cứu lịch sử cho biết, loại vũ khí này có khả năng công phá lô cốt, công sự kiên cố, đồng thời tương đối gọn nhẹ, phù hợp với điều kiện cơ động của bộ đội. SKZ sau đó được đưa vào sử dụng trên chiến trường, trong đó có trận Phố Lu.

Những kết quả này gắn với hoạt động của một tập thể nghiên cứu, chế tạo vũ khí trong điều kiện chiến tranh. Các tài liệu đều ghi nhận vai trò chuyên môn và tổ chức của ông Trần Đại Nghĩa, đồng thời đề cập đến đóng góp của nhiều cán bộ, kỹ sư, công nhân quân giới.

Tháng 1/1948, ông Trần Đại Nghĩa được phong quân hàm Thiếu tướng trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Năm 1952, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động trong đợt đầu tiên. Tư liệu của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài ghi lại, tháng 5/1949, ông trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau kháng chiến chống thực dân Pháp, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị trong các lĩnh vực công nghiệp, giáo dục đại học và quản lý khoa học.

Ngày 20/5/1975, Chính phủ quyết định thành lập Viện Khoa học Việt Nam, tiền thân của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa được cử kiêm nhiệm Viện trưởng đầu tiên khi đang làm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước. Từ tháng 2/1977, ông tập trung vào nhiệm vụ Viện trưởng. Sau chiến tranh, yêu cầu không còn là chế tạo một loại vũ khí cho một chiến dịch, mà là xây dựng một cơ quan nghiên cứu có đội ngũ, tổ chức và định hướng lâu dài.

Theo tư liệu của Viện, năm 1977 Viện có khoảng 1.300 cán bộ tại 30 đơn vị từ Bắc vào Nam, hoạt động trong điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Từ thực tế ấy, GS Trần Đại Nghĩa thúc đẩy đào tạo cán bộ tại các viện nghiên cứu ở nước ngoài, tuyển chọn người trẻ tốt nghiệp xuất sắc và mời các nhà khoa học đầu ngành tham gia làm việc, chủ trì đề tài hoặc góp ý trong Hội đồng Khoa học. Những việc này tạo ra một mạng lưới chuyên môn cho một tổ chức vừa thành lập, thay vì chỉ bổ sung người cho đủ biên chế.

Ông coi Hội đồng Khoa học là nơi tập hợp trí tuệ của các ngành và của cả những nhà khoa học ngoài Viện để xác định phương hướng, trọng tâm nghiên cứu và đánh giá kết quả. Dấu ấn lãnh đạo ở đây là cách đặt quyết định chuyên môn vào thảo luận tập thể. Tư liệu của Viện Hàn lâm ghi nhận, ông quan tâm phát triển khoa học cơ bản, đặc biệt là khoa học tính toán. Trong thời kỳ ông làm Viện trưởng, Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển được thành lập, tạo tiền đề cho những hướng nghiên cứu về kỹ thuật tính toán và tin học sau này.

Một hướng khác là đưa hoạt động nghiên cứu tiếp cận cộng đồng khoa học quốc tế. Ông mời các nhà khoa học nước ngoài đến trao đổi, tìm cơ hội đào tạo cho cán bộ và triển khai hợp tác nghiên cứu. Năm 1979, Viện Khoa học Việt Nam phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô chuẩn bị chương trình nghiên cứu cho chuyến bay vũ trụ của Phạm Tuân và V. V. Gorbatko. Với tư cách Chủ tịch Ủy ban Nghiên cứu vũ trụ của Việt Nam, Trần Đại Nghĩa cùng Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu tham gia chuẩn bị chương trình. Đây là một ví dụ cụ thể cho việc Viện tham gia nhiệm vụ khoa học lớn thông qua hợp tác quốc tế.

Tám mươi năm trước, nhiệm vụ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho kỹ sư Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa) là nghiên cứu, chế tạo vũ khí phục vụ cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập. Từ nhiệm vụ được giao ngày 5/12/1946, ông cùng các cộng sự đã tham gia chế tạo thành công những loại vũ khí đáp ứng yêu cầu chiến trường, sau đó tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách trong hệ thống khoa học và công nghiệp của đất nước.

Nhìn lại hai chặng đường, điểm nối không chỉ là tài năng cá nhân của GS Trần Đại Nghĩa. Ở ngành Quân giới, ông cùng cộng sự biến kiến thức thành vũ khí có thể sử dụng. Ở Viện Khoa học Việt Nam, ông chú trọng bồi dưỡng con người, tạo cơ chế bàn bạc chuyên môn và lựa chọn những hướng nghiên cứu có ích cho đất nước. Nhiệm vụ thay đổi, nhưng cách làm vẫn bắt đầu từ yêu cầu thực tế rồi tìm người, tìm điều kiện và tổ chức công việc đến cùng.

Câu chuyện ấy có ý nghĩa đối với công tác xây dựng Đảng hôm nay ở một điểm rất cụ thể: phát hiện người có năng lực phải đi cùng việc tin cậy giao trách nhiệm; trọng dụng một nhà khoa học phải tạo điều kiện để họ xây dựng tập thể và để tập thể tiếp tục làm việc sau họ. Cuộc trở về năm 1946 cho thấy một quyết định dùng người đúng lúc. Những năm đầu của Viện Khoa học Việt Nam cho thấy giá trị bền lâu của quyết định ấy khi người được giao trọng trách tiếp tục đào tạo và quy tụ những người tài khác.

Thiết kế: Luyện Phạm

Thái An

Vân Nga

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/gs-tran-dai-nghia-cuoc-tro-ve-nam-1946-va-trong-trach-kien-tao-nganh-quan-gioi-2568309.html