GS-TS Mai Thanh Phong: 'Cởi trói' không gian nghiên cứu cho khoa học công nghệ TP.HCM

Bên cạnh tiềm lực, TP.HCM phải thực sự sẵn sàng tạo ra sản phẩm, doanh nghiệp công nghệ, tài sản trí tuệ và năng suất mới... trực tiếp đóng góp vào GRDP.

Trong mô hình tăng trưởng mới của TP.HCM, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN, ĐMST) được xác định là động lực trung tâm để tái cấu trúc nền kinh tế, nâng năng suất và tạo lợi thế cạnh tranh toàn cầu.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP.HCM lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 đặt mục tiêu tổng chi xã hội cho R&D đạt mức 2%-3%, bố trí ít nhất 4%-5% tổng chi ngân sách hằng năm cho KHCN và chuyển đổi số.

GS-TS Mai Thanh Phong, Hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa, thành viên Hội đồng cố vấn chiến lược ĐMST ĐH Quốc gia TP.HCM, đã có những trao đổi với báo Pháp Luật TP.HCM về vấn đề này.

 GS-TS Mai Thanh Phong, Hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa, thành viên Hội đồng cố vấn chiến lược ĐMST ĐH Quốc gia TP.HCM

GS-TS Mai Thanh Phong, Hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa, thành viên Hội đồng cố vấn chiến lược ĐMST ĐH Quốc gia TP.HCM

Có bước chuyển mạnh về cơ chế vận hành

. Phóng viên: Thưa giáo sư, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP.HCM xem KHCN, ĐMST là yếu tố “sống còn” để phát triển. Ông đánh giá hệ sinh thái này đã hội đủ “độ chín” cũng như sự sẵn sàng để gánh vác sứ mệnh dẫn dắt tăng trưởng?

+ GS-TS Mai Thanh Phong: Hệ sinh thái KHCN, ĐMST của TP.HCM hiện đã tích lũy cơ bản đầy đủ các điều kiện nền tảng để bước sang một giai đoạn phát triển mới. TP.HCM đang sở hữu ba lợi thế then chốt. Trong đó có quy mô thị trường lớn cùng nhu cầu đổi mới rất cao, xuất phát từ các bài toán đô thị phức tạp về giao thông, năng lượng, môi trường, y tế, dữ liệu và quản trị công. Đây chính là “nguồn đầu vào” quan trọng cho ĐMST.

Bên cạnh đó, nguồn lực tri thức dồi dào với mạng lưới trường ĐH, viện nghiên cứu, chuyên gia, doanh nghiệp công nghệ và startup quy mô lớn, tạo nền tảng nghiên cứu mà ít địa phương có được.

Đáng chú ý, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP.HCM nhiệm kỳ 2025-2030 đã đặt KHCN, ĐMST và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của mô hình tăng trưởng mới. Tuy nhiên, để thực sự trở thành động lực dẫn dắt tăng trưởng, TP cần một bước chuyển mạnh mẽ về cơ chế vận hành. Mục tiêu về kinh tế số, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp và tổng chi xã hội cho nghiên cứu, phát triển (R&D) cho thấy TP đã nhìn KHCN không chỉ như một ngành, mà như động lực tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế.

Tôi cho rằng “độ chín” hiện nay là về tiềm lực, còn “độ sẵn sàng” phải được đo bằng khả năng tạo ra sản phẩm, doanh nghiệp công nghệ, tài sản trí tuệ và năng suất mới.

Ở điểm này, TP.HCM vẫn còn các nút thắt như liên kết viện - trường - doanh nghiệp chưa đủ sâu. Cơ chế tài chính cho nghiên cứu còn thiên về thủ tục đầu vào hơn là kết quả đầu ra, thương mại hóa còn thấp, thị trường vốn cho công nghệ sâu còn mỏng và cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu chưa thật sự rõ.

Do đó, nhiệm kỳ này nên được xem là nhiệm kỳ chuyển hệ sinh thái KHCN, ĐMST từ có năng lực nghiên cứu sang có năng lực ĐMST và công nghiệp hóa công nghệ. Nếu làm được, KHCN và ĐMST hoàn toàn có thể trở thành động lực dẫn dắt tăng trưởng mới của TP.HCM.

 Các hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ tại Trường ĐH Bách khoa TP.HCM. Ảnh: NTCC

Các hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ tại Trường ĐH Bách khoa TP.HCM. Ảnh: NTCC

Chấp nhận rủi ro có kiểm soát

. Để KHCN và ĐMST thực sự là bệ phóng, đặc biệt khi TP.HCM đang xây dựng Luật Đô thị đặc biệt, theo ông, cần những đột phá thể chế nào để cởi trói cho không gian nghiên cứu và kích thích nguồn lực đầu tư vào R&D?

+ Tôi cho rằng TP.HCM cần ba nhóm đột phá thể chế.

Thứ nhất là đột phá về quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình trong KHCN. Các trường ĐH, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm cần được trao quyền chủ động hơn trong tuyển dụng chuyên gia, trả thu nhập cạnh tranh, sử dụng tài sản công cho nghiên cứu - thử nghiệm - hợp tác doanh nghiệp...

Nói cách khác, nếu muốn có kết quả đột phá thì phải có cơ chế vận hành khác biệt cho những đơn vị làm nhiệm vụ đột phá. Không thể yêu cầu nghiên cứu công nghệ lõi, bán dẫn, AI, vật liệu mới, năng lượng mới nhưng lại vận hành bằng cơ chế hành chính thông thường.

Thứ hai là đột phá về tài chính cho nghiên cứu và phát triển (R&D) theo hướng chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Nghiên cứu và ĐMST luôn có độ bất định. TP cần cơ chế quỹ ĐMST, quỹ đồng đầu tư với doanh nghiệp, đặt hàng theo bài toán lớn, tài trợ theo cột mốc công nghệ và đánh giá theo kết quả cuối cùng thay vì chỉ kiểm soát hóa đơn, chứng từ.

Thứ ba là đột phá về sandbox và mua sắm công ĐMST. TP nên cho phép thử nghiệm có kiểm soát các công nghệ mới trong giao thông thông minh, năng lượng, dữ liệu đô thị, y tế số, giáo dục số, vật liệu xanh, môi trường, công nghệ tài chính, logistics và chính quyền số.

Trong bối cảnh TP.HCM đang xây dựng Luật Đô thị đặc biệt, đây là thời điểm rất quan trọng để luật hóa các cơ chế vượt trội về phân cấp, phân quyền, tài chính - ngân sách, thu hút nhân tài, KHCN và huy động nguồn lực xã hội. Các thảo luận mới nhất về Luật Đô thị đặc biệt cũng nhấn mạnh yêu cầu tạo hành lang pháp lý vượt trội, mở rộng phân quyền, khơi thông nguồn lực và nâng năng lực cạnh tranh của TP.

Tôi cho rằng Luật Đô thị đặc biệt không nên chỉ là luật về quản trị đô thị mà phải là luật kiến tạo năng lực cạnh tranh mới cho một siêu đô thị dựa trên tri thức, công nghệ và ĐMST.

 Trường Đại học Bách khoa chủ trì hai mạng lưới về lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và công nghệ bán dẫn. Ảnh: NTCC

Trường Đại học Bách khoa chủ trì hai mạng lưới về lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và công nghệ bán dẫn. Ảnh: NTCC

. Nghị quyết đặt mục tiêu tổng chi xã hội cho R&D đạt mức 2-3%, bố trí ít nhất 4-5% tổng chi ngân sách hàng năm cho KHCN và chuyển đổi số. Làm thế nào để dòng vốn này được phân bổ trúng đích, hiệu quả và tạo ra những cú hích thực sự cho nền kinh tế, thưa ông?

+ Tăng chi cho KHCN và R&D là rất cần thiết nhưng quan trọng hơn là cách chi. Nếu tăng ngân sách mà vẫn phân bổ dàn trải, thiếu đặt hàng lớn, thiếu đánh giá tác động thì khó tạo cú hích cho nền kinh tế.

Do đó, cần phân bổ theo nhiệm vụ chiến lược, không phân bổ bình quân. TP.HCM nên xác định một số chương trình KHCN cấp TP có quy mô đủ lớn, kéo dài 5-10 năm, gắn với các bài toán then chốt như AI và dữ liệu đô thị, bán dẫn - vi mạch, công nghệ sinh học - y sinh, robot - tự động hóa, công nghệ môi trường, logistics thông minh, kinh tế biển…

TP cũng cần chuyển từ tài trợ đề tài sang tài trợ chuỗi giá trị công nghệ. Phát triển công nghệ cần nghiên cứu nền tảng, thử nghiệm, mẫu thử, kiểm định, bảo hộ sở hữu trí tuệ, sản xuất thử, tiêu chuẩn hóa, gọi vốn, tiếp cận khách hàng. Do đó, ngân sách KHCN phải tài trợ được cả chuỗi, đặc biệt là giai đoạn “thung lũng chết” giữa phòng thí nghiệm và thị trường.

Mặt khác, TP phải dùng vốn công để kéo vốn tư nhân. Mỗi đồng ngân sách cho R&D nên được thiết kế để huy động thêm vốn doanh nghiệp, vốn đầu tư mạo hiểm, vốn ODA, vốn từ các tập đoàn công nghệ. TP có thể áp dụng cơ chế đồng tài trợ, nhà nước hỗ trợ phần rủi ro công nghệ ban đầu, doanh nghiệp tham gia phần hoàn thiện sản phẩm, thử nghiệm thị trường và mở rộng sản xuất. Ngoài ra, đánh giá hiệu quả bằng đầu ra kinh tế – xã hội.

 Không gian học tập của sinh viên chương trình Liên kết Cử nhân Kỹ thuật Quốc tế hợp tác giữa Trường ĐH Bách khoa với Đại học Công nghệ Sydney. Ảnh: NTCC

Không gian học tập của sinh viên chương trình Liên kết Cử nhân Kỹ thuật Quốc tế hợp tác giữa Trường ĐH Bách khoa với Đại học Công nghệ Sydney. Ảnh: NTCC

Sáu mũi nhọn tạo lợi thế khác biệt cho TP.HCM

. Vậy theo ông, giữa bối cảnh cạnh tranh quốc tế gay gắt, TP.HCM cần ưu tiên tập trung nguồn lực vào những mũi nhọn công nghệ cốt lõi nào để tạo ra lợi thế khác biệt?

+ TP.HCM cần tránh tư duy “công nghệ nào cũng làm” mà nên chọn những mũi nhọn hội đủ bốn điều kiện gồm có nhu cầu thị trường lớn, có năng lực nghiên cứu - đào tạo sẵn có, có khả năng thu hút doanh nghiệp và có tác động lan tỏa đến nhiều ngành kinh tế. Cụ thể, tôi đề xuất sáu cụm công nghệ ưu tiên.

Thứ nhất là AI, dữ liệu lớn và chuyển đổi số đô thị. Đây là lớp công nghệ nền tảng cho quản trị đô thị, tài chính, logistics, y tế, giáo dục, công nghiệp, thương mại và dịch vụ công.

Thứ hai là vi mạch bán dẫn và hệ thống nhúng. TP.HCM không nhất thiết bắt đầu bằng sản xuất chip quy mô lớn nhưng có thể đi mạnh vào thiết kế vi mạch, kiểm thử, đóng gói, hệ thống nhúng, cảm biến, chip cho AI biên, IoT công nghiệp và đào tạo nhân lực bán dẫn.

Thứ ba là công nghệ sinh học, y sinh và chăm sóc sức khỏe thông minh. Với quy mô dân số lớn, hệ thống bệnh viện mạnh và nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao, TP.HCM có thể phát triển các sản phẩm chẩn đoán, vật liệu y sinh, thiết bị y tế, dược - sinh học, AI y tế và y học cá thể hóa.

Thứ tư là năng lượng mới, lưu trữ năng lượng và công nghệ xanh. Đây là điều kiện cho tăng trưởng bền vững, đặc biệt khi TP phát triển trung tâm dữ liệu, công nghiệp công nghệ cao, giao thông điện hóa và đô thị xanh.

Thứ năm là vật liệu tiên tiến, công nghệ môi trường và kinh tế tuần hoàn. TP.HCM có nhu cầu rất lớn về xử lý nước, rác thải, ô nhiễm, vật liệu xây dựng xanh, vật liệu chức năng, màng lọc, vật liệu carbon thấp và các vật liệu tiên tiến đa chức năng.

Thứ sáu là robot, tự động hóa, logistics thông minh và sản xuất tiên tiến. Đây là nhóm công nghệ trực tiếp nâng năng suất của doanh nghiệp sản xuất, cảng biển, kho vận, thương mại điện tử, y tế và dịch vụ đô thị.

TP.HCM cần thiết kế những mũi nhọn này thành các chương trình công nghệ chiến lược, mỗi chương trình có phòng thí nghiệm trọng điểm, nhóm nghiên cứu mạnh, doanh nghiệp dẫn dắt, quỹ hỗ trợ, sandbox, tiêu chuẩn kỹ thuật và thị trường thử nghiệm.

TP.HCM đã có nền tảng hệ sinh thái startup tốt, được StartupBlink ghi nhận vào top 5 Đông Nam Á năm 2025. Bước tiếp theo là chuyển từ startup dịch vụ số sang startup công nghệ sâu, có tài sản trí tuệ, công nghệ lõi và khả năng cạnh tranh khu vực.

 Trường ĐH Bách khoa hợp tác với Tập đoàn Marvell. Ảnh: NTCC

Trường ĐH Bách khoa hợp tác với Tập đoàn Marvell. Ảnh: NTCC

Tận dụng siêu dự án tỉ đô cho công nghệ TP.HCM

. TP.HCM đang đón nhận những làn sóng đầu tư công nghệ tỉ đô, điển hình như Trung tâm dữ liệu AI 2,1 tỉ USD. Làm sao để TP.HCM và các trường đại học kỹ thuật tận dụng được các siêu dự án này để tạo hiệu ứng lan tỏa cho hệ sinh thái nội địa, thưa ông?

+ Những siêu dự án công nghệ là cơ hội rất lớn nhưng cơ hội đó chỉ trở thành năng lực nội sinh nếu TP.HCM biết thiết kế cơ chế lan tỏa.

Tôi cho rằng TP cần thiết lập cơ chế để các trường ĐH kỹ thuật, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ được tiếp cận năng lực tính toán hiệu năng cao. Nguồn lực này sẽ phục vụ các chương trình nghiên cứu trọng điểm về AI, mô hình ngôn ngữ tiếng Việt, dữ liệu đô thị, y tế thông minh, giao thông, vật liệu, khí hậu, năng lượng và sản xuất thông minh.

TP cũng cần xây dựng chương trình đào tạo nhân lực AI, dữ liệu, hạ tầng số quy mô lớn. Trong đó, các trường ĐH kỹ thuật như Trường ĐH Bách khoa đóng vai trò đào tạo kỹ sư AI, kỹ sư dữ liệu, kỹ sư điện toán hiệu năng cao, kỹ sư an toàn thông tin, kỹ sư vận hành trung tâm dữ liệu và kỹ sư năng lượng cho hạ tầng số.

Gắn các siêu dự án với đặt hàng nghiên cứu chung. Một số dự án có thể triển khai ngay phục vụ cho nhu cầu phát triển của TP gồm tối ưu năng lượng cho trung tâm dữ liệu, làm mát xanh, an ninh mạng, chip chuyên dụng, AI cho đô thị thông minh, AI cho giáo dục và y tế.

TP cần tạo điều kiện cho startup và doanh nghiệp công nghệ nội địa được sử dụng hạ tầng này thông qua các gói tín dụng tính toán, sandbox dữ liệu, chương trình tăng tốc AI và cơ chế mua sắm công sản phẩm AI. TP.HCM cũng nên đàm phán với nhà đầu tư để có cam kết về chuyển giao tri thức, đào tạo nhân lực, sử dụng nhà cung cấp nội địa, hợp tác phòng thí nghiệm và hỗ trợ hệ sinh thái startup.

Nếu làm tốt thì một trung tâm dữ liệu AI không chỉ là công trình hạ tầng, mà sẽ trở thành một đòn bẩy cho hệ sinh thái AI và kinh tế số của TP.HCM.

 Trường Đại học Bách khoa và VNPT hợp tác chiến lược thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghệ lõi. Ảnh: NTCC

Trường Đại học Bách khoa và VNPT hợp tác chiến lược thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghệ lõi. Ảnh: NTCC

Chọn một số khu vực làm phòng thí nghiệm sống

. Mới đây, TP.HCM đã triển khai Đề án thí điểm tạo động lực thương mại hóa, đưa nhanh kết quả nghiên cứu từ ngân sách nhà nước vào sản xuất, kinh doanh. Ông nhìn nhận thế nào về bước đi này và Trường Đại học Bách khoa sẽ tham gia với vai trò gì để cùng thành phố gỡ điểm nghẽn thương mại hóa?

+ Thực tiễn cho thấy tỉ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn thấp do điểm nghẽn không chỉ nằm ở nhà khoa học, mà nằm ở cả chuỗi chuyển giao công nghệ. Nhiều kết quả nghiên cứu đã có nhưng thiếu cơ chế giao quyền, thiếu vốn hoàn thiện sản phẩm, thiếu doanh nghiệp đồng hành, thiếu tiêu chuẩn thử nghiệm, thiếu khách hàng đầu tiên và thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích.

Đề án thí điểm của TP.HCM về thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước vừa được triển khai là một bước đi rất đúng đắn. Đề án nhằm tháo gỡ tình trạng nhiều kết quả nghiên cứu đã nghiệm thu nhưng chưa chuyển hóa được thành sản phẩm, hàng hóa cụ thể trên thị trường.

Tuy nhiên, tôi cho rằng doanh nghiệp phải tham gia từ đầu, không chờ đến cuối. Khi thiết kế nhiệm vụ nghiên cứu, cần có doanh nghiệp cùng xác định bài toán, đồng tài trợ, tham gia thử nghiệm và cam kết tiếp nhận kết quả nếu đạt tiêu chí kỹ thuật. Như vậy, nghiên cứu sẽ không xa rời nhu cầu thị trường.

Song song đó, viện/trường cần có bộ phận chuyển giao công nghệ chuyên nghiệp. Các trường đại học phải có văn phòng sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ đủ mạnh, có năng lực định giá tài sản trí tuệ, đàm phán hợp đồng, thành lập spin-off, gọi vốn, hỗ trợ pháp lý và kết nối doanh nghiệp.

Nhà nước cần chia sẻ rủi ro ở giai đoạn sản xuất thử nghiệm. Đây là giai đoạn khó nhất. Sản phẩm đã qua nghiên cứu nhưng chưa đủ điều kiện thương mại, TP có thể hỗ trợ kinh phí hoàn thiện nguyên mẫu, kiểm định, chứng nhận, thử nghiệm thực địa, bảo hộ IP, đăng ký tiêu chuẩn và kết nối khách hàng đầu tiên.

Không những thế, cần cơ chế chia sẻ lợi ích đủ hấp dẫn cho nhà khoa học, trường đại học và doanh nghiệp. Nếu nhà khoa học không được hưởng lợi xứng đáng từ tài sản trí tuệ, họ sẽ thiếu động lực thương mại hóa. Nếu doanh nghiệp không được bảo đảm quyền khai thác hợp lý, họ sẽ ngại đầu tư tiếp.

Về sandbox, TP.HCM cần mạnh dạn mở rộng theo hướng “thử nghiệm có kiểm soát trong môi trường thật”. Không gian sandbox nên ưu tiên các lĩnh vực như AI trong dịch vụ công, giao thông thông minh, y tế số, giáo dục số, fintech, năng lượng phân tán, vật liệu xanh trong xây dựng, thiết bị y tế, robot dịch vụ, logistics thông minh, xử lý môi trường và kinh tế tuần hoàn.

Đặc biệt, TP có thể chọn một số khu vực làm “living lab” như Khu Công nghệ cao, Đại học Quốc gia TP.HCM, Trường Đại học Bách khoa, Khu đô thị Thủ Thiêm, Cần Giờ, các khu công nghiệp, bệnh viện lớn, cảng – logistics, và các quận/huyện có bài toán đô thị đặc thù. Ở đó, sản phẩm “make in Vietnam” được thử nghiệm trong điều kiện thật, có dữ liệu thật, người dùng thật, tiêu chuẩn thật và cơ chế giám sát an toàn.

Trường Đại học Bách khoa với năng lực và kinh nghiệm của mình tham gia đề án này với vai trò là nguồn cung công nghệ, nguồn cung nhân lực kỹ thuật, đơn vị kiểm định, đánh giá độc lập,và hạt nhân hình thành các nhóm spin-off công nghệ sâu.

. Xin cảm ơn ông.

Đưa tinh thần ĐMST vào đại học

Để vẽ lên một diện mạo mới cho TP.HCM dựa trên nền tảng KHCN & ĐMST, cốt yếu vẫn là con người. Là trung tâm đào tạo hàng đầu, vai trò của Trường Đại học Bách khoa là phải đào tạo ra những kỹ sư và nhà khoa học có năng lực làm chủ công nghệ lõi, giải quyết bài toán lớn của TP và kiến tạo doanh nghiệp công nghệ mới.

Chiến lược đào tạo thế hệ trí thức trẻ của Trường ĐH Bách khoa đang và sẽ gắn đào tạo với thực tiễn, đặc biệt là các dự án cụ thể. Các chương trình đào tạo kỹ thuật sẽ tăng mạnh học phần project-based learning, đồ án thiết kế, nghiên cứu từ năm 2, năm 3, thực tập trong doanh nghiệp công nghệ và tham gia các dự án lớn. Bên cạnh đó là tăng cường các chương trình đào tạo liên ngành cho công nghệ chiến lược.

Đặc biệt, chúng tôi đưa tinh thần ĐMST và khởi nghiệp công nghệ sâu vào trong đại học. Mỗi sinh viên kỹ thuật nên được trang bị năng lực phát hiện vấn đề, thiết kế giải pháp, bảo hộ sở hữu trí tuệ, phát triển nguyên mẫu, đánh giá thị trường và làm việc với doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng đội ngũ giảng viên, nhà khoa học gắn với chuẩn quốc tế.

Tôi tin rằng trong giai đoạn tới, Trường Đại học Bách khoa có thể đóng vai trò là “xưởng thiết kế năng lực công nghệ” cho TP.HCM, đào tạo kỹ sư chất lượng cao, phát triển công nghệ lõi, chuyển giao giải pháp cho doanh nghiệp, tham gia sandbox và hình thành các doanh nghiệp spin-off.

LÊ THOA thực hiện

Nguồn PLO: https://plo.vn/video/gs-ts-mai-thanh-phong-coi-troi-khong-gian-nghien-cuu-cho-khoa-hoc-cong-nghe-tphcm-post912222.html