GS. TS Trần Tuấn Anh: Phải tạo tri thức mới từ nghiên cứu cơ bản

Theo GS. TS Trần Tuấn Anh, muốn phát triển bền vững và làm chủ công nghệ lõi, Việt Nam không thể chỉ dừng ở gia công mà phải tạo ra tri thức mới từ nghiên cứu cơ bản.

Tại cuộc làm việc mới đây với lãnh đạo chủ chốt về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển mạnh mẽ khoa học cơ bản như nền tảng cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực tự chủ quốc gia.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, GS. TS Trần Tuấn Anh – Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng) cho rằng, để Việt Nam vươn lên thành quốc gia phát triển, cần có những chương trình đầu tư dài hạn cho nghiên cứu cơ bản, đồng thời xây dựng hệ sinh thái khoa học đủ sức thu hút nhân tài và tạo ra các công nghệ chiến lược trong tương lai.

GS. TS Trần Tuấn Anh – Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng)

GS. TS Trần Tuấn Anh – Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng)

Nghiên cứu cơ bản là điểm khởi đầu của năng lực sáng tạo quốc gia

Thưa Giáo sư, tại cuộc làm việc về công tác nghiên cứu cơ bản vừa diễn ra vào sáng 25/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặc biệt nhấn mạnh vai trò của nghiên cứu cơ bản đối với phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Theo Giáo sư, nghiên cứu cơ bản hiện giữ vị trí như thế nào trong chiến lược phát triển khoa học - công nghệ quốc gia?

GS.TS Trần Tuấn Anh: Có thể khẳng định, muốn trở thành quốc gia phát triển, Việt Nam không thể chỉ là nơi gia công công nghệ mà phải có năng lực tạo ra tri thức mới. Và nghiên cứu cơ bản chính là điểm khởi đầu của năng lực đó. Từ rất sớm, Đảng và Nhà nước đã đặc biệt quan tâm đến phát triển khoa học công nghệ, trong đó nghiên cứu cơ bản được xác định là một trong những trụ cột quan trọng của chiến lược phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Các chủ trương, nghị quyết lớn đều nhấn mạnh khoa học cơ bản là nền tảng của khoa học công nghệ; đầu tư cho nghiên cứu cơ bản chính là đầu tư cho phát triển bền vững lâu dài.

Vai trò của nghiên cứu cơ bản có thể nhìn ở ba khía cạnh chính. Trước hết, đây là nền tảng tạo ra tri thức mới và công nghệ lõi. Những nghiên cứu về quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy hôm nay có thể trở thành nền móng của các công nghệ hiện đại trong tương lai. Có những kết quả nghiên cứu phải mất nhiều năm mới được ứng dụng, nhưng khi đi vào thực tiễn lại tạo ra đóng góp rất lớn cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Thứ hai, nghiên cứu cơ bản giúp nâng cao năng lực tự chủ quốc gia, giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu. Khi có năng lực nghiên cứu và sáng tạo nội sinh, chúng ta sẽ chủ động hơn trong phát triển công nghệ và tri thức mới. Đồng thời, đây cũng là môi trường để hình thành đội ngũ chuyên gia trình độ cao, khẳng định năng lực khoa học công nghệ của đất nước.

Thứ ba, nghiên cứu cơ bản tạo nguồn cho đổi mới sáng tạo và các ngành công nghiệp tương lai. Nhiều kết quả nghiên cứu ban đầu khi được ứng dụng đã có tác động rất rộng lớn trong đời sống và phát triển kinh tế - xã hội. Ví dụ như nghiên cứu vật liệu, khi ứng dụng vào công nghiệp hàng không với các vật liệu composite, dù xuất phát từ nghiên cứu cơ bản nhưng lại có vai trò đặc biệt quan trọng.

Tạo nền tảng cho công nghệ chiến lược

Việt Nam đã có những thành tựu nổi bật nào trong nghiên cứu cơ bản thời gian qua, thưa Giáo sư?

GS.TS Trần Tuấn Anh: Trong khoảng hai thập niên gần đây, nghiên cứu cơ bản của Việt Nam đã có bước phát triển rõ rệt cả về chất lượng lẫn số lượng công bố quốc tế; đồng thời hình thành được nhiều nhóm nghiên cứu mạnh, qua đó tạo nền tảng cho các hướng công nghệ chiến lược mới.

Ví dụ trong lĩnh vực công nghệ vật liệu, chúng ta đã có những nghiên cứu mới về nano, carbon, các vật liệu có độ sạch cao và quy mô bán công nghiệp, đem lại kết quả rất tốt cho ngành công nghiệp vật liệu. Hay trong lĩnh vực y sinh, công nghệ sinh học, nhiều kết quả nghiên cứu đã góp phần phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững, nông nghiệp công nghệ cao…Điều quan trọng là nhiều thành tựu công nghệ ngày nay đều bắt nguồn từ những nghiên cứu cơ bản trước đó. Vì vậy, nếu muốn làm chủ các công nghệ lõi trong tương lai, Việt Nam buộc phải đầu tư nghiêm túc cho nghiên cứu nền tảng ngay từ bây giờ

Điểm nghẽn lớn nhất vẫn là cơ chế tài chính

Trong buổi làm việc vào ngày 25/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có nhắc tới một số “điểm nghẽn” đang cản trở sự phát triển của khoa học cơ bản. Giáo sư đánh giá như thế nào về những điểm nghẽn này, đặc biệt là cơ chế tài chính và cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu?

GS.TS Trần Tuấn Anh: Theo tôi, nút thắt lớn nhất hiện nay của nghiên cứu cơ bản không còn nằm ở nhận thức hay chủ trương nữa. Đảng và Nhà nước đã ban hành rất nhiều chủ trương, nghị quyết, đặc biệt là Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Vấn đề lớn nhất hiện nay nằm ở cơ chế vận hành và năng lực của hệ thống khoa học. Cơ chế quản lý tài chính dù đã bắt đầu được tháo gỡ nhưng nhìn chung vẫn còn nặng tính hành chính. Đầu tư cho nghiên cứu cơ bản còn thấp, phân tán và thiếu các chương trình lớn kéo dài.

Trong khi đó, nghiên cứu cơ bản cần những chương trình dài hạn, có thể kéo dài hơn 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn. Các nước phát triển đều rất chú trọng đầu tư dài hạn cho nghiên cứu cơ bản với nguồn lực đủ lớn để phát triển ổn định các hướng nghiên cứu.

Một điểm nghẽn khác là hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm. Nhiều phòng thí nghiệm lớn đã được đầu tư từ lâu, trong khi nghiên cứu cơ bản hiện nay đòi hỏi hệ thống trang thiết bị hiện đại, đáp ứng chuẩn mực quốc tế. Đồng thời, cũng cần kinh phí vận hành ổn định để các thiết bị phát huy hiệu quả thực chất trong nghiên cứu.

Với những hạn chế về cơ chế tài chính và hạ tầng nghiên cứu như hiện nay, Việt Nam còn khó triển khai các chương trình công nghệ có quy mô lớn, tầm ảnh hưởng rộng.

Tuy nhiên, tôi cho rằng với việc hoàn thiện Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cùng sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước thông qua các chủ trương, chính sách và các ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 57, những điểm nghẽn này sẽ từng bước được tháo gỡ, tạo điều kiện để khoa học công nghệ nói chung và khoa học cơ bản nói riêng có đóng góp lớn hơn cho phát triển đất nước.

Cần chiến lược về nhân lực xuyên suốt

Một vấn đề được quan tâm hiện nay là thu hút nhân lực trẻ cho nghiên cứu cơ bản. Theo Giáo sư, cần thay đổi điều gì để tạo ra hệ sinh thái nghiên cứu cạnh tranh?

GS.TS Trần Tuấn Anh: Theo tôi, cần có chính sách đồng bộ và xuyên suốt từ giáo dục phổ thông đến đại học, sau đại học và các viện nghiên cứu. Ngay từ bậc phổ thông phải có định hướng để học sinh quan tâm tới các ngành khoa học cơ bản. Khi theo học các ngành này, các em cần được hỗ trợ về học bổng, điều kiện nghiên cứu và đầu ra nghề nghiệp để yên tâm theo đuổi con đường khoa học.

Hiện nay, phần lớn học sinh giỏi vẫn tập trung vào các ngành kinh tế, quản trị hay thương mại. Điều này khiến nguồn nhân lực cho khoa học cơ bản bị lệch và chưa thu hút được nhiều học sinh thực sự xuất sắc.

Tổng Bí thư cũng đã đề cập đến việc xây dựng chương trình quốc gia phát triển nhân tài khoa học cơ bản. Theo tôi, cần bắt tay triển khai ngay từ bây giờ với một lộ trình rõ ràng, từ trường phổ thông đến đại học và viện nghiên cứu. Nếu làm tốt, trong khoảng 5-10 năm tới, Việt Nam có thể hình thành đội ngũ nhà khoa học trẻ đủ sức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và từng bước tiệm cận trình độ khu vực, quốc tế.

Giáo sư có thể cho biết, đối với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam - đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, sẽ có những định hướng cụ thể như thế nào trong thời gian tới?

GS.TS Trần Tuấn Anh: Nghiên cứu cơ bản là nghiên cứu nhằm tạo ra tri thức mới, kiến thức mới, có những điều trước đây chưa từng có. Vì vậy cần phân biệt giữa nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng.

Nghiên cứu cơ bản thuần túy nhằm tạo ra tri thức mới, có thể ở thời điểm hiện tại chưa định hướng ứng dụng cụ thể nhưng về lâu dài sẽ có giá trị ứng dụng rất lớn. Bên cạnh đó là nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, nhất là theo các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược.

Hiện nay, nhiều nghiên cứu trong các lĩnh vực vật lý, toán học đang hướng tới tính toán lượng tử, công nghệ lượng tử. Các nghiên cứu về vật liệu tại Viện Hàn lâm cũng đang phục vụ cho phát triển năng lượng mới như hydrogen hay các vật liệu cho công nghiệp hàng không - vũ trụ, công nghiệp bán dẫn….Đó là những hướng nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng mà Viện Hàn lâm sẽ tiếp tục tập trung phát triển trong thời gian tới.

Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!

''Tôi cho rằng, kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc họp cho chủ trương về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản là nguồn động lực rất lớn đối với đội ngũ các nhà khoa học Việt Nam. Điều quan trọng nhất là sự quyết tâm của người đứng đầu Đảng và Nhà nước đối với phát triển khoa học công nghệ, trong đó có khoa học cơ bản. Đây không chỉ là định hướng chiến lược mà còn tạo niềm tin để các nhà khoa học yên tâm cống hiến, tiếp tục theo đuổi những nghiên cứu dài hạn, góp phần nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của quốc gia trong kỷ nguyên công nghệ mới'', GS. TS Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Thu Hường - Lê Vân

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/gs-ts-tran-tuan-anh-phai-tao-tri-thuc-moi-tu-nghien-cuu-co-ban-458439.html