Hà Nội quyết liệt ứng phó ô nhiễm không khí và bài toán nội hóa ngoại ứng tiêu cực
Việc Hà Nội tăng cường, quyết liệt thực hiện các biện pháp kiểm soát, ứng phó ô nhiễm không khí trên địa bàn Thành phố cho thấy nỗ lực nội hóa các ngoại ứng tiêu cực do ô nhiễm gây ra.
Kiểm soát nguồn phát thải với nguyên tắc “6 rõ”
Thời gian qua, Thành phố đã ban hành nhiều chỉ thị, kế hoạch, chương trình hành động và triển khai quyết liệt các giải pháp kiểm soát ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường không khí, bước đầu đạt một số kết quả tích cực.
Ô nhiễm không khí tại Hà Nội chủ yếu là ô nhiễm bụi mịn PM2.5; nồng độ PM2.5 trung bình năm giai đoạn 2023-2025 thường xuyên ở mức trên 40 µg/m³; năm 2025 đạt 48,5 µg/m³. Số ngày vượt ngưỡng QCVN 05:2023/BTNMT chiếm khoảng 1/3 số ngày trong năm, tập trung chủ yếu vào mùa khô (từ tháng 9 năm trước đến tháng 4 năm sau, đặc biệt những ngày thời tiết nghịch nhiệt).

Ô nhiễm không khí ở Hà Nội và một số tỉnh chủ yếu do 4 nguồn khí thải: Phương tiện giao thông, các hoạt động xây dựng, hoạt động sản xuất công nghiệp và đốt rác. (Ảnh minh họa: VGP/Thùy Chi)
Từ đầu năm 2026 đến nay, tỷ lệ số ngày có chỉ số chất lượng không khí ở mức tốt và trung bình đạt 74,42%; mục tiêu giai đoạn 2026-2027 (theo Quyết định số 1804/QĐ-UBND ngày 09/4/2026 của UBND Thành phố) là 75% trở lên. Nồng độ bụi PM2.5 trung bình ngày đạt 37,89 µg/m³, thấp hơn giá trị giới hạn 45 µg/m³ theo QCVN 05:2023/BTNMT. So với cùng kỳ năm 2025, chất lượng không khí của Thành phố đã có chuyển biến tích cực.
Tuy nhiên, áp lực phát thải từ quá trình đô thị hóa, xây dựng hạ tầng, giao thông vận tải, sản xuất và sinh hoạt vẫn lớn. Cùng với điều kiện khí tượng bất lợi vào các tháng cuối năm, mây mù và hiện tượng nghịch nhiệt làm hạn chế khả năng khuếch tán chất ô nhiễm, gia tăng nguy cơ xảy ra các đợt ô nhiễm không khí kéo dài. Vì vậy, các nhiệm vụ đã đề ra cần tiếp tục được cụ thể hóa, tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, gắn với trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, địa phương và chủ nguồn thải.
Trước yêu cầu đó, việc tăng cường thực hiện đồng bộ các biện pháp kiểm soát tại từng nguồn thải, địa bàn; kết hợp tuyên truyền, giám sát cộng đồng với kiểm tra, xử lý vi phạm; chủ động dự báo, cảnh báo và triển khai biện pháp phòng ngừa, ứng phó trước các đợt ô nhiễm là cần thiết, cấp bách.
Trên cơ sở các văn bản, chương trình, kế hoạch đã ban hành, UBND Thành phố ban hành Kế hoạch tăng cường, quyết liệt thực hiện các biện pháp kiểm soát, ứng phó ô nhiễm không khí trên địa bàn Thành phố nhằm xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, trách nhiệm, tiến độ và cơ chế phối hợp thực hiện.
Kế hoạch nhằm triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp kiểm soát nguồn phát thải, quan trắc, giám sát, dự báo, truyền thông và bảo vệ sức khỏe Nhân dân trên toàn Thành phố; bảo đảm nguyên tắc “6 rõ: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”. Tập trung kiểm soát các nguồn phát thải trọng điểm, trước hết là bụi từ hoạt động xây dựng, vận chuyển vật liệu, bụi đường, đốt rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp, đốt rác và chất thải không đúng quy định; đồng thời kiểm soát nguồn giao thông, công nghiệp và các nguồn phát thải khác.
Kế hoạch yêu cầu sử dụng kết quả quan trắc, dự báo khí tượng và dự báo chất lượng không khí để chủ động khuyến cáo, triển khai các biện pháp phòng ngừa, ứng phó từ sớm (trước 5-7 ngày khi có tín hiệu nguy cơ); thường xuyên cập nhật theo dự báo hạn ngắn và số liệu quan trắc thực tế; kết hợp kiểm soát phát thải tại nguồn với tuyên truyền thường xuyên, liên tục; tăng cường ứng dụng công nghệ, giám sát cộng đồng, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
Chủ động dự báo, kiểm soát nguồn phát thải
Đối với lĩnh vực xây dựng, Sở Xây dựng chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp UBND các xã, phường lập danh mục các công trường, điểm phá dỡ, bãi tập kết vật liệu và điểm tiếp nhận phế thải; xác định rõ chủ đầu tư, nhà thầu, tuyến vận chuyển, thời gian hoạt động; ưu tiên kiểm soát các công trình đang đào đất, san nền, phá dỡ và công trình gần trường học, bệnh viện, khu dân cư.
Yêu cầu chủ đầu tư, nhà thầu thực hiện nghiêm túc các giải pháp giảm thiểu phát tán bụi từ hoạt động xây dựng như che chắn phù hợp; phủ kín vật liệu rời và đất trống chưa thi công; làm cứng, duy trì sạch đường nội bộ và lối ra vào; áp dụng cắt, khoan, phá dỡ có hút bụi hoặc làm ẩm tại vị trí phát sinh. Vận chuyển phế thải từ trên cao bằng thiết bị, ống kín hoặc biện pháp bao che phù hợp.

Hà Nội yêu cầu chấm dứt việc đốt rơm rạ, phế phẩm nông nghiệp.
Tại từng cổng, tổ chức điểm kiểm soát có xe chở vật liệu, đất, phế thải. Xe ra vào phải được kiểm tra độ kín thùng, che phủ và tình trạng rơi vãi; xe ra khỏi công trình phải được phun, rửa làm sạch bánh xe, gầm và phần thân bám bùn đất, kiểm tra lại trước khi ra đường.
Lập nhật ký xe gắn với biển số, đơn vị vận tải, thời gian vào - ra, loại vật liệu và kết quả kiểm tra, rửa xe. Lắp camera giám sát tại khu vực rửa xe và cổng ra, ưu tiên nhận diện biển số; lưu trữ, kết nối dữ liệu theo phương án kỹ thuật và quy định bảo vệ dữ liệu.
Trong tháng 10/2026, Sở Xây dựng hoàn thành danh mục công trình lớn và công trình có nguy cơ cao; yêu cầu 100% công trình lớn thực hiện giám sát bụi bằng cảm biến, camera, AI hoặc giải pháp công nghệ phù hợp theo Quyết định của UBND Thành phố, kết nối dữ liệu về công an xã, phường và UBND các xã, phường. Trước 15/11/2026, hàng rào công trường xây dựng nhà cao tầng, khu đô thị… phải đáp ứng về chiều cao tối thiểu 3m, màu sắc, hình thức phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật và đặc điểm khu vực; xây tường bao cao tối thiểu 40cm; hệ thống camera giám sát xung quanh công trường lưu trữ tối thiểu 30 ngày.
Đối với vận chuyển vật liệu và làm sạch bụi đường, Công an Thành phố chủ trì kiểm tra, xử lý nghiêm các phương tiện vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng, đất, đá, phế thải không che phủ hoặc che phủ không kín; làm rơi vãi vật liệu, kéo theo bùn đất gây ô nhiễm môi trường; chở quá tải, đổ thải trái phép.
Sở Xây dựng phối hợp Công an Thành phố, UBND các xã, phường xác định tuyến vận chuyển, điểm nóng ô nhiễm bụi trọng điểm và phương án tổ chức giao thông phù hợp. Chủ đầu tư phải tổ chức thu gom ngay bùn đất do hoạt động công trường làm rơi vãi ở cổng và đoạn đường bị ảnh hưởng trong phạm vi bán kính 50-100 m theo tuyến xe ra vào, bảo đảm an toàn giao thông.
UBND các xã, phường và đơn vị được giao quản lý hợp đồng vệ sinh môi trường chịu trách nhiệm lập danh mục và lịch làm sạch theo từng tuyến, ưu tiên các tuyến đường trọng điểm ô nhiễm bụi. Áp dụng chỉ số đánh giá hiệu quả công việc KPI về mức độ sạch, tình trạng tái phát sinh bụi và thời gian xử lý điểm rơi vãi. Trong đợt tăng cường, đề xuất tổ chức ít nhất 02 lượt làm sạch/ngày tại tuyến trọng điểm có tích tụ bụi; tăng lượt tại đoạn cổng công trường, điểm rơi vãi theo kiểm tra thực tế. Ưu tiên đêm, sáng sớm trước giờ cao điểm và khung giờ thấp điểm phù hợp; điều chỉnh hoặc bỏ lượt tưới khi mưa, mặt đường đã ướt hoặc có nguy cơ mất an toàn.
Về ngăn chặn đốt hở gắn với thu gom và xử lý thay thế, UBND các xã, phường chịu trách nhiệm lập bản đồ điểm thường xảy ra đốt rác, lá cây, phụ phẩm nông nghiệp; lập phương án giám sát, phân công cán bộ, công an cấp xã và lực lượng tại chỗ kiểm tra theo địa bàn, khung giờ có nguy cơ. Khi nhận thông tin đốt đang diễn ra phải tổ chức xác minh, ngăn chặn, xử lý ngay theo thẩm quyền.
Bố trí lịch, địa điểm thu gom lá cây, cành cây, rác cồng kềnh và rơm rạ phù hợp; hướng dẫn ủ hữu cơ, thu gom làm nguyên liệu hoặc chuyển giao đơn vị xử lý. Công khai đầu mối tiếp nhận và phương án thay thế trước mùa thu hoạch.
Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì tiếp nhận tín hiệu điểm cháy từ vệ tinh, camera và phản ánh cộng đồng để chuyển ngay cho các địa phương, Công an Thành phố. Theo dõi điểm tái diễn và trách nhiệm giải quyết của chính quyền sở tại.
Bên cạnh đó, để giảm phát thải từ nguồn giao thông, Thành phố đầu tư, hoàn thiện mạng lưới giao thông công cộng (xe buýt, đường sắt đô thị, xe đạp công cộng và các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác), tăng số lượng bãi đỗ xe công cộng; thực hiện lộ trình chuyển đổi phương tiện giao thông công cộng sử dụng năng lượng sạch, năng lượng xanh. Kiểm soát khí thải ô tô, xe mô tô, xe gắn máy theo lộ trình của Chính phủ; điều tiết, phân luồng giao thông hợp lý. Triển khai chuyển đổi phương tiện giao thông xanh; nghiên cứu, thực hiện phân vùng giao thông, thu phí phương tiện cơ giới đường bộ vào một số khu vực theo quy định.

Hà Nội thử nghiệm vận hành xe phun sương dập bụi vào ban đêm.
Về tuyên truyền rộng khắp gắn với giám sát, cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội là đầu mối chủ trì xây dựng kế hoạch truyền thông, tổ chức chiến dịch rộng khắp, liên tục về giảm bụi xây dựng, xe chở vật liệu, bụi đường và đốt hở. Trong 07 ngày làm việc từ khi Kế hoạch được ban hành, hoàn thành kế hoạch với lịch phát sóng, nền tảng, sản phẩm, nhóm đối tượng, đầu mối phối hợp và chỉ tiêu đánh giá cụ thể.
Duy trì thông tin hằng ngày trên báo chí, phát thanh, truyền hình và nền tảng số; tổ chức chuyên mục, phóng sự hiện trường, hướng dẫn trực quan cho chủ đầu tư, lái xe, đơn vị vệ sinh, người dân. Khi có cảnh báo, tăng thời lượng, phát thông điệp trước đợt ô nhiễm và cập nhật sáng - chiều hoặc ngay khi có thay đổi quan trọng. UBND các xã, phường chuyển thông tin đến thôn, tổ dân phố, công trường, hộ sản xuất qua hệ thống thông tin cơ sở và các kênh phù hợp. Hướng dẫn người dân gửi ảnh, video kèm thời gian, vị trí, biển số hoặc thông tin công trình qua ứng dụng iHanoi, đường dây tiếp nhận và các kênh hiện có được Thành phố công bố.
Đối với ứng dụng khoa học, công nghệ và thử nghiệm có kiểm soát, Thành phố giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng, Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội và các đơn vị liên quan nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đề xuất UBND Thành phố thử nghiệm có kiểm soát một số công nghệ, mô hình, giải pháp mới. Trước mắt, nghiên cứu, đề xuất thử nghiệm một số mô hình: (i) kiểm soát bụi công trường theo thời gian thực, tự động kích hoạt biện pháp dập bụi khi vượt ngưỡng; (ii) thiết bị phun sương, dập bụi áp lực cao tại công trường, điểm tập kết và khu vực phát sinh bụi lớn; (iii) các công nghệ, giải pháp mới khác có khả năng áp dụng phù hợp với điều kiện thực tế của Hà Nội.
Nỗ lực nội hóa ngoại ứng tiêu cực
Trong tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng, Hà Nội đang đối mặt với ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt là ô nhiễm bụi mịn PM2.5. Từ các số liệu tổng hợp được nêu trong Kế hoạch số 400/KH-UBND, dưới góc nhìn của kinh tế học môi trường, có thể thấy, các hoạt động kinh tế như thi công xây dựng, vận tải cơ giới, đốt rơm rạ hay sản xuất công nghiệp mang lại lợi ích riêng cho chủ thể phát thải, nhưng lại đẩy một phần chi phí thiệt hại về sức khỏe công cộng, suy giảm hệ sinh thái. Kế hoạch 400 đặt mục tiêu buộc các chủ nguồn thải phải chịu trách nhiệm tài chính và pháp lý trực tiếp, qua đó thu hẹp khoảng cách giữa chi phí cá nhân và chi phí xã hội.

GS Hoàng Xuân Cơ - Trưởng ban Khoa học, Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam - trình bày tham luận tại một hội nghị tập huấn về ô nhiễm không khí hồi cuối tháng 9/2026.
Đối với từng nguồn phát thải, Kế hoạch 400 phân loại chi tiết theo ngành, từ đó đặt ra các yêu cầu khắt khe nhằm chủ động dự báo, kiểm soát nguồn phát thải, đồng thời tăng cường giám sát, gắn trách nhiệm với kết quả xử lý.
Đối với ngành xây dựng - một trong những nguồn phát thải bụi mịn PM2.5 và PM10 lớn nhất tại Hà Nội do các hoạt động đào đất, san nền, phá dỡ và vận chuyển vật liệu - Kế hoạch 400 yêu cầu 100% công trình lớn (diện tích trên 01 ha) phải thực hiện giám sát bụi bằng cảm biến, camera, công nghệ AI kết nối về công an và UBND xã/phường; quy chuẩn hóa hàng rào tối thiểu 3m, tường bao 40cm, hệ thống phun sương dập bụi tự động và camera lưu trữ tối thiểu 30 ngày… cùng hàng loạt yêu cầu cụ thể đối với nhà thầu trong quá trình thi công. Các quy định này buộc các chủ đầu tư phải nội hóa chi phí môi trường vào trong chi phí sản xuất cơ bản của dự án. Thay vì để xã hội gánh chịu hậu quả, chi phí lắp đặt thiết bị quan trắc tự động, camera AI và trạm rửa xe trở thành chi phí cố định bắt buộc.
Đối với bụi đường tái phát sinh do xe chở vật liệu rơi vãi, Kế hoạch 400 giao Công an Thành phố và Sở Xây dựng phối hợp kiểm tra, xử lý nghiêm; đồng thời có các yêu cầu cụ thể với chủ đầu tư. Việc áp dụng cơ chế KPI gắn liền với đánh giá hiệu quả công việc giải quyết triệt để vấn đề “khoán” hợp đồng dịch vụ công trước đây. Việc định lượng rõ ràng chỉ tiêu KPI, kết hợp với chế tài xử lý và truy xuất nguồn gốc xe rơi vãi đến tận cổng công trường, sẽ khiến nhà thầu vệ sinh và nhà thầu xây dựng phải phối hợp chặt chẽ để giảm thiểu chi phí dọn dẹp hậu quả.
Đối với việc ngăn chặn đốt hở và kinh tế tuần hoàn nông nghiệp, Thành phố trợ giá 100% và biến chất thải thành tài nguyên. Dưới góc độ kinh tế môi trường, đây là một chính sách đúng đắn về mặt kinh tế và phúc lợi. Thay vì cấm đoán, Kế hoạch 400 sử dụng chính sách trợ cấp công nghệ và dịch vụ xử lý. Khi Nhà nước chi trả 100% chi phí thu gom và xử lý sinh học, chi phí ròng của việc xử lý rơm rạ đối với nông dân giảm về bằng 0, người nông dân không có lý do gì để đốt rơm rạ nữa. Đồng thời, điều này thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn, biến phụ phẩm nông nghiệp thành phân bón hữu cơ cải tạo đất, tạo ra giá trị gia tăng kép cho chuỗi sản xuất nông nghiệp Thủ đô.
Đối với nhiệm vụ giảm phát thải giao thông và Vùng phát thải thấp (LEZ), Kế hoạch 400 yêu cầu tiếp tục triển khai LEZ theo Nghị quyết số 57/2025/NQ-HĐND ngày 26/11/2025 của HĐND Thành phố. Dưới góc độ kinh tế môi trường, LEZ tạo ra rào cản chi phí cơ hội rất cao đối với việc sử dụng phương tiện cá nhân phát thải cao, buộc người tham gia giao thông phải tính toán lại việc tiếp tục sử dụng xe xăng cũ với việc chuyển đổi sang phương tiện công cộng hoặc xe điện.
Một điểm nhấn trong Kế hoạch 400 là hệ thống dự báo sớm, kích hoạt ứng phó theo diễn biến ô nhiễm. Kế hoạch 400 đưa ra giải pháp thiết lập cơ chế cảnh báo sớm trước 5-7 ngày, cập nhật trước 48-72 giờ và 24 giờ dựa trên mô hình khí tượng và số liệu quan trắc; kích hoạt các biện pháp ứng phó phân cấp theo mức độ nguy cơ, phối hợp với ngành Y tế và Giáo dục để đưa ra khuyến cáo bảo vệ sức khỏe, điều chỉnh hoạt động học tập, hoãn hoạt động ngoài trời khi chỉ số AQI lên mức nguy hại. Việc chủ động cho học sinh nghỉ học hoặc khuyến cáo người dân hạn chế ra đường trước các đợt nghịch nhiệt kéo dài giúp giảm thiểu đáng kể chi phí ngoại vi về y tế công cộng - một khoản tiết kiệm kinh tế có thể lớn hơn rất nhiều so với chi phí vận hành hệ thống dự báo.
Có thể thấy, Kế hoạch số 400 không chỉ là một văn bản chỉ đạo điều hành cấp bách trước thềm mùa nghịch nhiệt, mà còn là một bước chuyển biến tư duy quản lý môi trường từ quản lý bị động sang phòng ngừa chủ động. Dưới góc nhìn kinh tế môi trường, sự thành công của Kế hoạch 400 sẽ giải quyết bài toán phân bổ nguồn lực, bảo vệ không khí sạch, nâng cao năng suất lao động xã hội và định hình mô hình tăng trưởng đô thị xanh bền vững cho Thủ đô Hà Nội.

