Hà Nội siết quản lý chất thải xây dựng: Từ áp lực môi trường đến bài toán kinh tế tuần hoàn

Khối lượng chất thải xây dựng tại Hà Nội tăng mạnh khi nhiều dự án hạ tầng đồng loạt triển khai. Chỉ thị 18 yêu cầu quản lý theo vòng đời dự án, thúc đẩy tái chế, tái sử dụng, hướng tới kinh tế tuần hoàn và giảm áp lực môi trường.

Thành phố Hà Nội siết quản lý chất thải xây dựng khi nhiều dự án hạ tầng cùng tăng tốc. Yêu cầu môi trường ngày càng khắt khe khiến chi phí của một công trường không chỉ được tính bằng vật liệu, nhân công hay tiến độ, mà còn bằng năng lực quản trị dòng vật liệu sau thi công.

Công trường có hai bảng dự toán

Khi hàng loạt dự án hạ tầng đồng loạt triển khai, lượng chất thải xây dựng phát sinh tại Hà Nội có thời điểm lên tới khoảng 10.000 tấn mỗi ngày, gần gấp 5 lần mức thông thường. Trong khi năng lực xử lý chưa theo kịp, chi phí môi trường dần trở thành một biến số mới trong hiệu quả đầu tư của mỗi công trình.

Một công trình được tạo nên từ vật liệu xây dựng, nhưng hiệu quả của nó ngày càng phụ thuộc vào cách xử lý phần vật liệu còn lại sau khi thi công. Ảnh: MTXD

Một công trình được tạo nên từ vật liệu xây dựng, nhưng hiệu quả của nó ngày càng phụ thuộc vào cách xử lý phần vật liệu còn lại sau khi thi công. Ảnh: MTXD

Trong nhiều năm, ngành xây dựng tập trung quản lý dòng vật liệu đi vào công trình gồm xi măng, thép, cát đá và thiết bị. Trong khi đó, dòng vật liệu đi ra sau phá dỡ, đào đắp hay thi công thường chỉ được coi là phần việc xử lý cuối cùng, thay vì một nguồn tài nguyên cần được quản trị.

Chỉ thị số 18 của UBND TP Hà Nội đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận. Chất thải xây dựng được đặt trong chuỗi quản lý xuyên suốt vòng đời dự án, từ khảo sát, thiết kế, thi công đến vận chuyển, tái chế và tái sử dụng, thay vì chỉ kiểm soát ở khâu đổ thải.

Theo yêu cầu mới, chủ đầu tư phải lập phương án quản lý chất thải ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án. Quan trọng hơn, phương án này phải được tích hợp từ khâu khảo sát, thiết kế thay vì xử lý khi công trình đã phát sinh phế thải. Đó là sự thay đổi về tư duy quản lý.

Xe vận chuyển được giám sát bằng GPS và camera; khối lượng chất thải được đối chiếu qua dữ liệu điện tử, phiếu giao nhận và chứng từ cân. Dòng vật liệu sau công trường không còn "biến mất", mà bắt đầu được định danh và quản trị bằng dữ liệu.

Sự thay đổi này diễn ra đúng thời điểm Hà Nội triển khai hàng loạt dự án hạ tầng quy mô lớn. Cầu vượt sông Hồng, đường vành đai, quốc lộ cùng hàng nghìn dự án giải phóng mặt bằng khiến lượng chất thải xây dựng tăng từ khoảng 2.100 tấn lên gần 10.000 tấn mỗi ngày.

Trong khi đó, bốn điểm xử lý hiện hữu chỉ có tổng công suất khoảng 1.670 tấn mỗi ngày. Phần còn lại phải lưu chứa tạm thời, vận chuyển liên vùng hoặc đối mặt nguy cơ đổ trộm. Khoảng cách giữa lượng chất thải phát sinh và năng lực xử lý đang tạo sức ép ngày càng lớn lên hạ tầng đô thị.

Chi phí của bài toán này không còn dừng ở vận chuyển hay xử lý. Chi phí ấy phát sinh từ thời gian chờ bãi tiếp nhận, logistics, giải phóng mặt bằng và cả phần tài nguyên bị đánh mất khi vật liệu không được tái sử dụng. Mỗi tấn bê tông chôn lấp cũng đồng nghĩa với thêm một phần tài nguyên thiên nhiên bị khai thác.

"Điểm nghẽn không nằm ở công nghệ. Điểm nghẽn nằm ở dữ liệu."

Phát biểu tại tọa đàm về quản lý chất thải đô thị cuối tháng 5, TS. Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở dữ liệu đầu nguồn. Cơ quan quản lý vẫn chưa nắm đầy đủ khối lượng, đặc tính và dòng dịch chuyển của chất thải xây dựng nên việc điều hành luôn rơi vào thế bị động.

Theo ông, nhiều hoạt động thu gom vẫn thực hiện theo lịch cố định thay vì theo dữ liệu thời gian thực. Xe vận chuyển chạy chồng chéo, lãng phí nhiên liệu, trong khi các điểm tập kết quá tải vẫn không được cảnh báo kịp thời. Điều đó làm gia tăng chi phí vận hành của toàn bộ hệ thống.

"Điểm nghẽn không nằm ở công nghệ. Điểm nghẽn nằm ở dữ liệu. Không quản trị được dòng chất thải thì không thể tối ưu chi phí của công trường". Ông Đặng Việt Dũng - Chủ tịch Tổng hộ Xây dựng Việt Nam.

Từ cách tiếp cận đó, Chỉ thị 18 đặt dữ liệu vào trung tâm của quản lý chất thải xây dựng. Khi GPS, camera và dữ liệu điện tử được kết nối, chất thải không còn là phần vật liệu "biến mất" sau cổng công trường, mà trở thành một dòng tài sản có thể theo dõi, kiểm soát và tối ưu.

Giá trị nằm ở phần bị bỏ đi

Phần lớn chất thải xây dựng ở Việt Nam vẫn kết thúc vòng đời sau khi được nghiền để san lấp hoặc đổ bỏ. Dù công nghệ tái chế đã xuất hiện, giá trị của dòng vật liệu này vẫn chủ yếu dừng ở những ứng dụng có giá trị gia tăng thấp.

Điều ngành xây dựng đang thiếu không phải thêm một bãi đổ thải, mà là một thị trường đủ lớn cho vật liệu tái chế. Khi phần lớn bê tông cũ vẫn chỉ được nghiền để san lấp, giá trị kinh tế của vòng tuần hoàn vật liệu gần như chưa được hình thành.

Theo GS.TS. Nguyễn Hoàng Giang, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, tại nhiều quốc gia phát triển, bê tông cũ, gạch vỡ và xà bần được coi là nguồn cốt liệu mới sau khi phân loại và xử lý. Cách tiếp cận này vừa giảm khai thác tài nguyên, vừa kéo dài vòng đời của vật liệu xây dựng.

Ở Việt Nam, rào cản không nằm ở công nghệ nghiền hay tái chế. Doanh nghiệp vẫn thiếu hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, định mức và đơn giá cho từng loại vật liệu tái chế. Đầu ra vì thế còn hạn chế, trong khi nhiều chủ đầu tư vẫn ưu tiên vật liệu nguyên khai do chưa có đủ công trình mẫu để tạo niềm tin.

Theo PGS.TS. Lưu Đức Hải, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đô thị và Phát triển hạ tầng, quản lý chất thải không chỉ nhằm giảm ô nhiễm mà còn hướng tới sử dụng hiệu quả tài nguyên và tạo giá trị kinh tế. Nhưng, công nghệ sẽ khó phát huy hiệu quả nếu thiếu sự thay đổi hành vi và sự tham gia của cộng đồng.

Trong nhiều năm, ngành xây dựng cạnh tranh bằng tiến độ, giá thành và năng lực thi công. Hôm nay, năng lực quản trị môi trường đang trở thành một tiêu chí mới của năng lực cạnh tranh. Đây không còn chỉ là yêu cầu tuân thủ, mà dần trở thành yếu tố quyết định hiệu quả đầu tư.

Vì vậy, câu chuyện chất thải xây dựng không kết thúc ở bãi chôn lấp hay nhà máy nghiền. Nó bắt đầu từ bản thiết kế, đi cùng mỗi chuyến xe vận chuyển và khép lại khi vật liệu được đưa trở lại một công trình mới. Đó là vòng đời mà dữ liệu, công nghệ và chính sách phải cùng vận hành.

Bê tông, thép và xi măng vẫn quyết định hình hài của một công trình. Nhưng cuộc cạnh tranh của ngành xây dựng đang dịch chuyển từ công trường sang vòng đời của vật liệu. Phần từng được coi là phế thải đang dần trở thành nơi quyết định hiệu quả đầu tư của những công trình trong nền kinh tế xanh.

Áp lực mới của công trường Hà Nội

Phát sinh khoảng 10.000 tấn chất thải xây dựng mỗi ngày khi các dự án hạ tầng đồng loạt triển khai.
Bốn điểm xử lý hiện hữu chỉ có tổng công suất khoảng 1.670 tấn/ngày.
Từ đầu năm 2026, lượng chất thải xây dựng phát sinh ước khoảng 1,5 triệu tấn.
Chỉ thị 18 yêu cầu quản lý chất thải theo vòng đời dự án, ưu tiên tái chế tại chỗ và số hóa bằng GPS, camera, dữ liệu điện tử.
Nhà máy xử lý, tái chế chất thải xây dựng Dục Tú dự kiến công suất 2.000 tấn/ngày, bổ sung năng lực xử lý cho Hà Nội.

Nguyễn Vân

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/ha-noi-siet-quan-ly-chat-thai-xay-dung-tu-ap-luc-moi-truong-den-bai-toan-kinh-te-tuan-hoan-116926.html